Sunday, December 4, 2022

T Ố N G B I Ệ T



T Ố N G   B I Ệ T 
“Đản khứ mạc phục vấn,
Bạch vân vô tận thì! . 
Vương Duy
(Xin đừng hỏi nữa Bạn ơi! 
Đầy trời mây trắng muôn đời vẫn bay) 

Tống biệt là tiễn đưa là chia ly là kẻ ở người đi nhuốm màu buồn thương, tống  biệt  vẫn là đề tài sáng tác của thi nhân muôn thuở. Tống biệt thường nhuốm màu sắc của Đường thi. Chốn giang đầu bằng hữu tiễn biệt nhau, nơi bến sông hay bên cầu bịn rịn phút chia tay đôi lứa đôi nơi
Người lên ngựa, kẻ chia bào,
Rừng phong thu đã nhuộm màu quan san. (Kiều) 

Đưa chàng lòng dặc dặc buồn
Bộ khôn bằng ngựa thủy khôn bằng thuyền
…
Dặm  hồng bụi cuốn chinh yên 
Trông người đã khuất mấy miền dâu xanh. ( Chinh phụ ngâm) 

Tống Biệt của Tản Đà đầu thế kỷ XX nơi chốn Thiên Thai nhuốm màu liêu trai 
“Suối tiễn oanh đưa luống ngậm ngùi”:
Hình bóng người đi như 
“Cái hạc bay lên vút tận trời!
Trời đất từ đây xa cách mãi.
Cửa động,
Đầu non,
Đường lối cũ.
Ngàn năm thơ thẩn bóng trăng chơi..” 
(Tản Đà . Tống Biệt, 1922) 

và Tống Biệt Hành của Thâm Tâm mới là bài hành đưa tiễn khảng khái u trầm của nhiều thế hệ thanh niên thời chiến chúng tôi. Tiễn biệt, chia tay .. lên đường, ra đi … Ừ ! Ra đi …mà biết về đâu nhỉ? Đã nhuốm chinh yên khắp bốn trời … Cứ đi … cứ “Giã nhà đeo bức chiến bào, Thét roi cầu Vị ào ào gió thu” 
Thế mới là 

Tống biệt hành 

Đưa người, ta không đưa qua sông,
Sao nghe tiếng sóng ở trong lòng?
Bóng chiều không thắm, không vàng vọt,
Sao đầy hoàng hôn trong mắt trong?
Đưa người ta chỉ đưa người ấy
Một giã gia đình, một dửng dưng...
- Ly khách! Ly khách! Con đường nhỏ,
Chí nhớn chưa về bàn tay không,
Thì không bao giờ nói trở lại!
Ba năm mẹ già cũng đừng mong!
Ta biết người buồn chiều hôm trước:
Bây giờ mùa hạ sen nở nốt,
Một chị, hai chị cũng như sen
Khuyên nốt em trai dòng lệ sót.
Ta biết người buồn sáng hôm nay:
Giời chưa mùa thu, tươi lắm thay,
Em nhỏ ngây thơ đôi mắt biếc
Gói tròn thương tiếc chiếc khăn tay...
Người đi? Ừ nhỉ, người đi thực!
Mẹ thà coi như chiếc lá bay,
Chị thà coi như là hạt bụi,
Em thà coi như hơi rượu cay
Thâm Tâm 

Buổi sáng cuối tuần đọc lại những bài Tống biệt mà cảm khái vô cùng thiên địa mang mang… đến như nhà sư thi nhân Tuệ Sỹ cũng Tống biệt hành 
Tống biệt hành của sư chỉ một bước đường nhưng âm âm khí lạnh bờ sông Dịch của Đường thi
 “Đò ngang neo bến đầy sương sớm
Cạn hết ân tình, nước lạnh sao?” 
“Tích thời nhân dĩ một,
Kim nhật thuỷ do hàn” (Lạc Tân Vương. Dịch Thuỷ tống biệt) 
(Người xưa đã khuất bóng mờ 
Nước sông Dịch đến bây giờ lạnh căm)

Tống biệt hành 

Một bước đường thôi nhưng núi cao
Trời ơi mây trắng đọng phương nào
Đò ngang neo bến đầy sương sớm
Cạn hết ân tình, nước lạnh sao?

Một bước đường xa, xa biển khơi
Mấy trùng sương mỏng nhuộm tơ trời
Thuyền chưa ra bến bình minh đỏ
Nhưng mấy nghìn năm tống biệt rồi

Cho hết đêm hè trông bóng ma
Tàn thu khói mộng trắng Ngân hà
Trời không ngưng gió chờ sương đọng
Nhưng mấy nghìn sau ố nhạt nhòa

Cho hết mùa thu biệt lữ hành
Rừng thu mưa máu dạt lều tranh
Ta so phấn nhụy trên màu úa
Trên phím dương cầm, hay máu xanh

Tuệ Sỹ 
NhaTrang 1977

Rồi mời đọc thêm một bài Tống biệt hành của nữ sĩ Vi Khuê thời hiện đại, khẩu khí thơ nào khác gì nam giới 

Tống biệt hành 

Ta tưởng ngươi
đi về phương đông
Ta rót cho ngươi
chén rượu hồng
Rượu sẽ mềm môi
ngươi sẽ khóc
Ta cười. Ngươi
có hiểu gì không?

Ta tưởng ngươi
đi về phương tây
Ta rót cho ngươi
chén rượu đầy
Rượu sẽ làm cay
đôi mắt ướt
Ta nhìn, lệ rớt
giữa lòng tay...

Ta tưởng ngươi
đi về phương nam
Ta rót cho ngươi
chén rượu tràn
Rượu sẽ làm hoen
thân áo bạc
Ngươi về. Khật
khưỡng dưới vầng trăng.

Ta tưởng ngươi
đi về phương bắc
Ta rót cho ngươi
chén rượu ngọc
Rượu sẽ vì ta
nói với ngươi
Vĩnh biệt. Đừng
quay nhìn ngõ trúc.

Ta tiễn ngươi! Ôi!
Ta tiễn ngươi
Rừng phong không gió
trời không mây
Hoa đâu. Để
ngát thơm vườn Ngự
Ta tiễn ngươi mà
ta tiễn ngươi!

Vi Khuê 
2015
  
Ta tiễn người hay ta tiễn ta 
Đọc Tống biệt hành lại nhớ Hồ trường…

Tống biệt 

Tiễn người nghiêng chén rót về Đông
Rượu như sương tỏa đóa mây hồng
Cả một bình minh trong hơi rượu
Ta tiễn người  đi ! Có buồn không 

Tiễn người nghiêng chén rót về Tây 
Mưa Tây Sơn! nước đã dâng đầy
Khà lên hơi rượu câu tống biệt 
Mà đôi mái tóc ngả mầu mây

Tiễn người nghiêng chén rót về Nam
Trời Nam cuồn cuộn sắc khói lam 
Bốn trời mờ mịt mây cố xứ
Dục phá thành sầu vẫn chưa tan

Tống biệt rượu nghiêng về Bắc phương 
Người đi thêm luống những đoạn trường
Cười lên một trận buồn nghiêng ngả
Lệ phong kín nỗi, lệ như sương 

Đưa người rượu rót khắp tứ phương 
Màu men màu mắt rợn nghìn chương
Tiễn người!  ta tiễn ta !  một thể
Cười lên nghiêng ngửa cõi vô thường

2017 
mai ngọc cường


 

Thursday, November 10, 2022

HOÀI NIỆM MIỀN NAM

 Sáng dậy sớm lục soạn lại tủ sách, tình cờ một tập sách mỏng, nhỏ và cũ kỹ rơi ra. Nhặt lên đọc mới biết đó là tập Bài hát Công dân Lớp sáu của Vũ Thanh Tuyền do Trung Tâm Học Liệu . Bộ Giáo Dục (VNCH) ấn hành lần thứ nhất 10.000 cuốn vào năm 1973 với giá bìa $35 (tiền VNCH). 

Sách in typo, 36 trang kể luôn bìa, gồm 30 bài hát giáo dục Công dân cho lớp 6, đã đem vào Chương trình Phát thanh học đường do  Trung Tâm Học Liệu . Bộ Giáo Dục (VNCH) niên khóa 71-72 và 72-73. 


Tôi cũng không nhớ là có tập bài hát giáo dục này và nó đã nằm trong tủ sách của tôi bao năm nay, nhưng rõ ràng tuổi đời của nó đã 50 năm. 

Nửa thế kỷ đã trôi qua trên nhưng trang giấy vàng ố dấu vết của thời gian. 

Những bài học Công dân lồng trong những dòng nhạc kẻ với nhịp 2/4 dễ hát với những lời cũng dễ thuộc, như bài ca dao để học sinh học thuộc lòng thời xa đó. Như trong Bài 1 Không phùng phí vật phẩm : 

“Thức ăn thức uống hằng ngày. 

Áo quần cùng với dép giày nhỏ to.

Bút sách cha mẹ sắm cho. 

Em đừng hoang phí phải lo giữ gìn” 


Hay, Bài 13 : Nguồn gốc tổ tiên. 

“Ta tự hào là con Rồng cháu Tiên. Dòng Lạc Hồng bốn ngàn năm văn hiến. 

Ngày mồng 10 tháng 3 nhớ chớ quên. 

Người khắp chốn cùng nhớ ơn tổ tiên. ”


Những bài hát đơn giản như những bài ca sinh hoạt thanh thiếu niên Hướng Đạo đầy tính cách giáo dục này, sao tôi chưa có lần nào được nghe qua nhỉ?! 

Những năm mà tập sách này được lưu hành trong học đường miền Nam là những năm tôi sắp trở thành cậu giáo trẻ dạy Trung học. 


Nếu không có 30/4/75 thì cuộc đời cậu giáo đã không đi vào ngã rẽ tối tăm cũng giống như tập sách hay này giấu mình trong bụi mờ trong ngăn tủ thời gian. 

Cho đến hôm nay 

May mà còn có cơ duyên tìm lại được. 

Xin chụp lại từng trang sách cũ, đưa lên đây. Mong rằng có ai tâm huyết nhìn thấy và hy vọng các bài ca giáo dục công dân tốt đẹp này có cơ may trở lại cuộc sống để giúp ích phần nào cho các thế hệ trẻ Việt tương lai.  

Mong lắm thay. 


mnc

5/11


NHỮNG QUYỂN SÁCH CŨ

 


Những quyển sách cũ đã nằm phủ bụi rất lâu trong tủ sách nhà tôi, từ khi e-book và audio book ra đời. Chúng chỉ còn là kỷ niệm không rời của một thời yêu sách, mê sách … bây giờ chữ nghĩa được sờ tận tay như những trang sách giấy chỉ lộ diện trong những lúc rảnh rỗi lau chùi bụi bặm và nhìn ngắm đôi phút trước khi sắp lên kệ như cũ. Thiệt là cảm hoài cho sách vở thời @ 

Nhớ bài học thuộc lòng từng ê a thời tiểu học 

Đọc sách phải quý sách 

Sách vở giữ cho sạch 

Tờ giấy bao công phu

Chúng ta đừng làm rách 

Lớn thêm tý nữa mê đọc sách, nghiến ngấu bao nhiêu pho trong tủ sách nhỏ của gia đình, đến các hằng hà sa số sách còn thơm mùi mực nhà in từ các hiệu sách lớn, bé trong thị xã đìu hiu đến choáng ngợp với bao nhiêu là chữ nghĩa nơi nhà Khai Trí, Lê Phan … nơi đô thành Sài Gòn. Thiệt là trăm hoa đua nở trên thị trường chữ nghĩa của miền Nam một thời. Tôi đã từng mê mẩn mùi mực thơm của những trang sách in từ Thiếu Nhi, Tuổi Hoa, Tuổi Ngọc … đến Ngày Nay, Đại Nam, Trí Đăng, An Tiêm, Lá Bối … của miền Nam một thời chữ nghĩa. Nhất là sách cảo thơm của nhà Lá Bối; chữ to, giấy rơm thơm không xén, đọc đến đâu, rọc đến đấy…sướng từ đầu óc đến ngón tay. 

Ôi! Thời oanh liệt đó còn đâu khi bên thắng cuộc tranh đoạt quyền hành làm cuộc phần thư khói lửa tàn khốc phủ lên nền học thuật văn chương văn hóa miền Nam. Và thay đổi bằng những thứ mà họ đem thế vào đó những thứ chữ nghĩa của họ?! 

 Những năm trần ai khoai củ, sau khi ra khỏi trại tù binh, tôi trở về nhà mẹ cuốc cày ”lao động vinh quang” mắt la mày lét muốn làm cái cột điện đổi đời. Hiệu sách Nhân Dân được mọc lên sát bên nhà tôi, kề Cửa hàng Ăn Uống và Quầy Mậu Dịch và Cửa hàng Chất Đốt cũng gần đâu đó. Đôi khi có chút rảnh tôi cũng ghé vào Hiệu sách Nhân Dân đọc cho biết và tiện mua Lê Nin toàn tập in giấy láng, bìa cứng, giá rẻ cho vợ … gói xôi !

Còn những quyển sách văn học in trên giấy hẩm xấu, chữ nhỏ xíu đọc muốn tăng độ cận và đầu ngón tay chai như cuốc đất. Nhưng cũng ráng mua mấy quyển mà đọc chơi cho khỏi nhớ sách.

Những Xervantex, Đôn Kihôtê, Saclo Brônti, Jên Erơ, Vichto Huy gô … Alếch Xănđơ Krôn … ôi! con bà nó ! đọc lên thật hại não. Vậy mà cũng ráng đọc, ráng mua. Một số đọc xong đem vào cầu thế giấy Kiss Me thêm đau trĩ . 

Vài quyển khác khi rời quê hương cách đây hơn 30 năm tôi mang theo vì cứ nghĩ là sẽ không có sách tiếng Việt đề đọc , thôi có còn hơn không.

Nhưng cũng từ đó đến nay tôi đã không bao giờ để mắt đến loại chữ phiên âm này nữa. Cho đến tình cờ…

Hôm nay thanh lọc lại tủ sách cũ. Tôi phải làm gì với mớ giấy bổi này đây ? 


mnc 


Ghi chú theo hình: 


H 1 : Sách vở cũng tang thương 

Hai bộ mặt của những quyền sách cũ : bên trái là sách dịch cũ trước 75 của miền Nam và bên kia là sách dịch (tả)của miền Bắc bán trong các hiệu sách Nhân dân với các tên tác giả phiên âm “chẳng ra sao cả” đọc xong phải ngẫm nghĩ mãi mới hiểu ! Hmmmmmm cũng chưa hiểu!? 


H2 : Sách vở cũng tang thương 

Bên trái là sách dịch sau “đổi mới” như cũ theo miền Nam bên phải. 

Hỡi ôi! “Đi đâu loanh quanh cho đời mỏi mệt”

Đi bao nhiêu năm lại về chốn cũ 

Thôi cũng mừng cho sách!

Sunday, October 30, 2022

ẢI CHI LĂNG

 



Nhân đọc lại một ít tài liệu lịch sử và địa lý nước nhà để làm một project sắp tới tình cờ tìm thấy một số báo cũ về Ải Chi Lăng, nơi mà tướng Lê Sát và nghĩa quân Lam Sơn của Bình Định Vương Lê Lợi đã chém bay đầu Liễu Thăng, tướng giặc Nhà Minh tại đây. Về sau quân Tàu kinh khiếp gọi Ải Chi Lăng là Quỉ Môn Quan. 


Nếu truyện kiếm hiệp của Kim Dung có nhắc đến Nhạn Môn Quan bên Trung Hoa, nơi diễn ra trận chiến của Dương gia tướng nhằm ngăn quân Liêu tiến vào Trung Nguyên, thì Việt Nam cũng có một quan ải nổi tiếng là Quỷ Môn Quan, nơi quân Đại Việt đã nhiều lần ngăn vó ngựa xâm lược phương Bắc. Giặc Tàu rất sợ  “Quỷ Môn Quan! Quỷ Môn Quan! Thập nhân khứ, nhất nhân hoàn” (Cửa Quỷ ! Cửa Quỷ! Mười người vượt qua, chỉ một tên sống sót trở về. ) 

Đó chính là Ải Chi Lăng lưu danh hùng sử. Ngoài chiến thắng chém tướng  Minh Liễu Thăng ( năm 1427) còn nhiều chiến công khác của cha ông ta với 2 lần chống quân Tống xâm lược (năm 981 và 1077), 2 lần kháng chiến chống quân Nguyên Mông (năm 1285 và 1287), cuộc chống quân xâm lược Mãn Thanh (năm 1788 - 1789). 

Bình sinh tôi 

Chưa từng thăm viếng Ải Chi Lăng 

Việt Nam hùng sử đã viết rằng 

Quỷ Môn Quan khiếp quân phương Bắc 

Nơi chém bay đầu giặc Liễu Thăng


Nay lật lại trang sử vàng mà lòng chợt cảm khái vô cùng . Lại may được đọc hai bài thơ xưa về chiến công Chi Lăng. Xin chép lại đây một bài của Phạm Sư Mạnh đời Trần và một bài của Nguyễn Du thời nhà Nguyễn. Xin chia sẻ cùng những ai yêu thích cổ thi: 


Chi Lăng động (支陵洞) là bài thơ được Phạm Sư Mạnh, tể tướng nhà Trần, sáng tác từ thế kỷ 14, khi ông dừng chân trước Ải Chi Lăng trên bước đường tuần thú xứ Lạng. Bài thơ ca ngợi cảnh non sông hùng vĩ nơi đây.


支陵洞

千里巡邊殷鼓鼙,

藩城蠻寨一醯雞。

澗南澗北紅旗轉,

軍後軍前青兕啼。

漊瀨谷深於井底,

支陵關險與天齊。

臨風跋馬高回首,

禁闕岧嶢雲氣西


Chi Lăng động 

Thiên lý tuần biên ẩn cổ bề

Phiên thành man trại nhất ê kê

Giản nam giản bắc hồng kỳ chuyển

Quân hậu quân tiền thanh hủy đề

Lâu lại cốc thâm ư tỉnh để

Chi Lăng quan hiểm dữ thiên tề

Lâu phong bạt mã cao hồi thủ

Cấm khuyết thiều nghiêu vân khí tê


Phạm Sư Mạnh 


Nghĩa : Đi nghìn dặm tuần tra biên giới, trống trận vang ầm,

Thành Phiên, trại Mán bé bằng con sâu.

Phía nam, phía bắc dòng suối, cờ hồng lay động,

Đằng trước, đằng sau đội quân, trâu rừng rống vang.

Hang Lâu Lại sâu hơn đáy giếng,

Ải Chi Lăng hiểm bằng lên trời.

Trước gió ghì cương ngựa, lên cao ngoảnh đầu nhìn,

Cửa khuyết cao chót vót ở tầng mây phía tây.


Dịch thơ: 

Động Chi Lăng 

Nghìn dặm biên thuỳ tiếng trống vang 

Mờ xa ẩn hiện trại phiên man 

Cờ hồng phất phới bên nam, bắc 

Trâu rống theo quân khắp đại ngàn 

Sâu thẳm giếng khơi hang Lâu Lại

Đường lên trời hiểm Ải Chi Lăng

Lên cao ghì ngựa nhìn trong gió 

Chót vót từng mây cung khuyết giăng


(mnc dịch)


⚜️


Bài thơ “Quỷ Môn đạo trung” Nguyễn Du trên đường đi sứ sang nhà Thanh, khi qua Chi Lăng đã làm bài thơ này. 

 


鬼門道中

鬼門石徑出雲棍

征客南歸欲斷魂

樹樹東風吹送馬

山山落月夜啼猿

中旬老態逢人懶

一路寒威仗酒温

山塢何家大貪睡

日高猶自掩柴門


 阮攸


Quỷ Môn đạo trung

Quỷ Môn thạch kính xuất vân côn

Chinh khách nam quy dục đoạn hồn

Thụ thụ đông phong xuy tống mã

Sơn sơn lạc nguyệt dạ đề viên

Trung tuần lão thái phùng nhân lãn

Nhất lộ hàn uy trượng tửu ôn

Sơn ổ hà gia đại tham thụy

Nhật cao do tự yểm sài môn

Nguyễn Du 


Nghĩa: Trên đường qua Quỷ Môn Quan 

Đường đá ở núi Quỷ Môn từ chân mây đi ra,

Lữ khách về nam trông thầy mà kinh hồn.

Gió đông thổi qua hàng cây vào đám ngựa đi tiễn,

Trăng tà lặn sau dãy núi, ban đêm nghe tiếng vượn hú.

Ta đang độ tuổi trung niên mà đã có vẻ già, rất ngại chuyện thù tiếp,

Dọc đường trời lạnh, nhờ hơi rượu mà ấm lòng.

Trong xóm dưới núi kia, nhà ai ham ngủ thế?

Mặt trời lên cao rồi mà cửa tre còn đóng kín.


Dịch thơ: 

Đường qua Quỷ Môn Quan

Đường đá Quỷ Môn thức mây tuôn

Đi về Nam khách phải kinh hồn 

Gió đông quyện lá vào chân ngựa 

Trăng lặn về đêm vượn hú dồn

Tráng khí như ta còn thấy sợ 

Nhờ hơi rượu ấm bớt bồn chồn

Nhà ai dưới núi còn im ỉm 

Trưa trật còn say ngủ giấc nồng 


maingocuong 



Friday, October 28, 2022

NHỚ CỤ TÚ XƯƠNG : Thi hỏng và hỏng thi

 Không ai làm thơ về thi cử và thi hỏng nhiều hơn cụ Tú Trần Tế Xương, một trong những nhà nho cuối cùng của nền Hán học nước ta vào cuối thế kỷ XIX. 

Cuộc đời ông Tú gắn liền với thi cử. Tổng cộng tất cả là tám lần lều chõng thi Hương , đó là các khoa: Bính Tuất (1886); Mậu Tý (1888); Tân Mão (1891); Giáp Ngọ (1894); Đinh Dậu (1897); Canh Tý (1900); Quý Mão (1903) và Bính Ngọ (1906). 

“Mấy khoa hương thí không đâu cả,

Ba luống vườn hoang bán sạch rồi.” 


Sau 3 lần hỏng thi, mãi đến lần thứ tư của khoa Giáp Ngọ (1894) ông mới đậu tú tài, nhưng cũng chỉ là Tú tài thiên thủ, Tú tài đậu vớt, Tú tài cuối bảng lúc đó ông đã 24 tuổi. Vẫn là anh khoá nghèo, ông Tú kiết. Cái gia cảnh túng quẫn trong thơ ông đã diễn tả 

“Gạo cứ lệ ăn đong bữa một,

Vợ quen dạ đẻ cách năm đôi.”

…

“Tiền bạc phó cho con mụ kiếm” 

Bà Tú cần cù lam lũ “Lặn lội thân cò nơi quãng vắng” 

“Nuôi đủ năm con với một chồng” 

Còn ông Tú Vị Xuyên cứ “vẫn phong lưu suốt cả đời” theo đuổi đèn sách, dùi mài nghiên bút đọc sách làm thơ, kiên trì làm anh khoá ứng thi thêm 4 hương khoa nữa những mong rồng mây gặp hội… nhưng đường khoa hoạn công danh vẫn đen như mõm chó. Ông phải than thân 

“Học đã sôi cơm nhưng chửa chín

Thi không ăn ớt thế mà cay”

“Đệ nhất buồn là cái hỏng thi”

“ Đau quá đòn hằn

Rát hơn lửa bỏng

Hổ bút, tủi nghiên

Tủi lều, tủi chõng”…

Trong bài Phú Hỏng Thi năm Canh Dần 1900 ông vẫn hoàn thân phận Tú tài lạc đệ và sáu năm kế tiếp tuy cay đắng lều chõng thêm 2 khoa thi nữa chẳng ra sao, hỏng thi lần thứ 8 và khi trở về ông Tú đã đột ngột nhuốm thương hàn và qua đời khi mới 37 tuổi. 


Cả cuộc đời ngắn ngủi chỉ hơn 30 năm đèn sách ông vẫn chỉ là anh học trò già, anh khoá số đen, ông Tú tài lạc đệ không sao vượt vũ môn để đậu tứ trường thành ông cử nhân Hương cống thay cho thân phận Tú tài mong có cơ hội 

“Mở mặt quyết cho vua chúa biết

Đua danh kẻo nữa mẹ cha già”, 

“Anh lăm le bia đá bảng vàng, cho vẻ vang mặt vợ”…

Học tài thi phận, thi biết bao lần hỏng vẫn hoàn hỏng, cho là số còn đen,

nên khoa hương thí  Quý Mão (1903) Trần Tế Xương đổi tên thành Trần Cao Xương tưởng rằng bớt đen đủi, nhưng rồi hỏng vẫn hoàn hỏng, đến phát cáu lên:

“Tế đổi làm cao mà chó thế,

Kiện trông ra tiệp hỡi trời ôi!” 

Để rồi cuối đời ông Tú hỏng thi tự an ủi rằng 

“Hẳn có kẻ lo toan việc nước, vua chửa dùng tài;

Hay không ai dạy dỗ đàn con, trời còn bắt hỏng!” 


Xã hội bấy giờ, cái bằng Tú tài ( còn gọi là Sinh đồ) thuộc loại dang dở, dở dang (Tú tài không được thi Hội, phải đậu Hương cống (cử nhân) Các sĩ tử đi thi Hội ở Kinh đô sẽ được gọi là Cống sinh hay Cống sĩ, đậu kỳ thi Hội  mới được bước vào sân Rồng dự thi Đình để vua chọn hiền tài Trạng Nguyên, Bảng Nhãn, Thám Hoa … được “vua biết mặt, chúa biết tên” được vua vời ra làm quan, lo toan việc nước, thi thố tài kinh bang tế thế xứng danh kẻ sĩ “Nhất Sĩ nhì Nông …”: một thời đã qua…

Tú Xương tận tụy một đời với Nho học cũng phải cảm thán 

“Nào có ra gì cái chữ nho 

Ông Nghè, ông Cống cũng nằm co”



ĐI THI 


Tấp tểnh người đi tớ cũng đi

Cũng lều cũng chõng cũng đi thi

Tiễn chân, cô mất hai đồng chẵn

Sờ bụng, thầy không một chữ gì!

Lộc nước còn mong thêm giải ngạch

Phúc nhà nay được sạch trường quy

Ba kỳ trọn vẹn, thêm kỳ nữa

Ú ớ u ơ ngọn bút chì!


THÂN THÂN 

Kể đã ba mươi mấy tuổi rồi,

Tôi ngồi tôi nghĩ cái thằng tôi.

Mấy khoa hương thí không đâu cả,

Ba luống vườn hoang bán sạch rồi.

Gạo cứ lệ ăn đong bữa một,

Vợ quen dạ đẻ cách năm đôi.

Bắc thang lên hỏi ông trời nhẽ:

Trêo ghẹo người ta thế nữa thôi?

Trần Tế Xương 


THI HỎNG

Ngày mai tớ hỏng, tớ đi ngay!

Cúng giỗ từ đây nhớ lấy ngày!

Học đã sôi cơm nhưng chửa chín,

Thi không ăn ớt thế mà cay!

Sách đèn phó mặc đàn con trẻ,

Thưng đấu nhờ tay một mẹ mầy.

“Cống hỉ”, “mét xì” thông mọi tiếng,

Chẳng sang Tàu, tớ cũng sang Tây.


Trần Tế Xương 


KHUYẾN THI 

( Khuyên học trò đi thi ) 

Nhà nước còn thi hãy cứ thi,

Việc gì mà chẳng rủ nhau đi?

Sử đề theo sách quan Ngô Giáp;

Toán pháp thêm bài hội Trí Tri,

Muốn sống phải chăm mài bút sắt,

Cho mau chớ chậm đổ hòn chì

Đỗ đâu hết cả nhà thông ký,

Phận của nhà nho có một ly.


Tú Xương


mnc 

( cuối tháng mười)



⚜️⚜️⚜️


Viết thêm 

“Ngói đỏ lợp nghè, lớp trên đè lớp dưới 

Đá xanh xây cống hòn dưới nống hòn trên” 

Mấy hôm trước nhân buổi trà dư tửu hậu cùng người bạn có đề cập đến chuyện thi cử thời xưa và thời nay. Khi tiến xĩ loạn cào cào trên đất nước nghìn năm, bạn nhớ đơn giản là thi Hương : Tú tài ; thi Hội : Cử nhân; thi Đình: Tiến sĩ. Đó là cái nhớ của bạn nhưng khoa cử ngày xưa không đơn giản như vậy và không như vậy. Nó nhiêu khê hơn nhiều. 

Tóm tắt là như vầy: 

1. Thi hương: đỗ tam trường (ba vòng đầu), đậu Tú tài; đỗ tứ trường: Hương cống (về sau gọi là Cử nhân); đỗ thủ khoa: Giải nguyên.

2. Thi hội: đỗ bảng chính gọi là trúng cách được tiếp tục dự thi đình; đỗ bảng thứ là thứ  cách, gọi là Phó bảng; đỗ thủ khoa: Hội nguyên.

3. Thi đình: đỗ thi đình gọi chung là Tiến sĩ (ông Nghè); đỗ thủ khoa: đình nguyên. Trong đó ba ngôi vị đầu là Trạng nguyên đậu đầu, kế đó là Bảng nhãn và Thám hoa.


mnc 


Tác giả Vĩnh Đào có viết một bài về Chuyện khoa cử ngày xưa đăng trên Tập San Việt Học rất chi tiết và lý thú.


Theo đường link dẫn sau để đọc bài của anh Vinh Dao

http://viethocjournal.com/2020/05/chuyen-ve-thi-cu-ngay-xua

Saturday, October 15, 2022

TUYẾT VÀ MAI


 “em mang tên một loài hoa 

người con gái hát khúc nhạc buồn 






https://online.fliphtml5.com/uwgth/yvxo/#p=58

Nhớ xưa khi còn học thầy Trần Trọng San dạy bài Tam Hữu (ba người bạn) của mùa đông tuyết giá lạnh rét là Tùng Trúc Mai: “Đình tiền mai thụ khai hoa trúc tùng tịnh mậu” ( Trước sân cây mai đã nở hoa cùng trúc, tùng thảy đểu tươi tốt) cổ thư gọi đó là Tuế Hàn Tam Hữu. 



Trong tuế hàn tam hữu, cổ nhân xếp Mai ở vị trí thứ ba, bởi vì, tùng (bách) và trúc bốn mùa đều xanh tươi, duy nhất chỉ có Mai, chỉ nở hoa vào đúng lúc mùa đông giá rét nhất, báo hiệu mùa Xuân sắp trở về. 

Mai mà cổ nhân thường ngâm vịnh, có ba loại: dương mai, mai vàng và mai. Nói đúng hơn, chỉ có loại thứ ba mới là “Mai” - một trong tuế hàn tam hữu. 

Đó là cánh mai trắng mong manh như tuyết trong thơ “mai hoa sắc bạch tuyết trung minh” ( sắc trắng hoa mai sáng trong tuyết).

Thế nên mai thường đi đôi với tuyết, tuyết vẫn đi đôi với mai.

Từ ngàn năm trước, hoa mai đã khơi nguồn cảm hứng cho biết bao thi nhân. Hoa mai được nhắc nhở trong thi ca của người xưa, cả ở Trung Hoa lẫn Việt Nam, thường là loại mai trắng. Đó là loại mai được nhắc đến trong thơ Trương Thuyết đời Đường: 

Khứ tuế Kinh Nam mai tự tuyết 

Kim niên Kế Bắc tuyết như mai 

Năm ngoái ở Kinh Nam (nay thuộc Hồ Quảng), hoa mai trắng như tuyết 

Năm nay ở Kế Bắc (nay là Bắc Kinh), tuyết trắng như hoa mai 

Không như hầu hết các giống mai vàng ở phương Nam, loại mai trắng ở Trung Hoa và miền Bắc nước ta có mùi hương dịu dàng, thanh khiết, chẳng hạn như mùi hương của rừng mai nơi cung Dao Trì thuở xưa: 

Dao Trì bất thị tuyết 

Vị tiểu ám hương lai 

(Cổ thi) 

(Nhìn về cung Dao Trì (thấy một mầu trắng nhưng) biết không phải là tuyết 

Vì có phảng phất mùi hương (thơm) 

Lư Mai Pha, một thi nhân đời Tống, đã so sánh mai và tuyết qua hai câu: 

Mai tu tốn tuyết tam phân bạch 

Tuyết khước thâu Mai nhất đoạn hương 

(Mai nên nhường tuyết ba phân trắng 

Tuyết phải thua mai một bậc thơm) 


Ôi một buổi sớm thứ bảy ngày nào cũng rảnh, đọc lại cổ thư mà bỗng muốn làm người Chu Thần Cao Bá Quát xưa nhìn hoa mà ngâm ngợi câu: 

“Thập tải luân giao cầu cổ kiếm

Nhất sinh đê thủ bái mai hoa”

十載侖交求古劍

一生低首拜梅花

(Mười năm xuôi ngược giao du chỉ cốt tìm thanh cổ kiếm 

Một đời chỉ cúi đầu bái lạy trước hoa mai) 




Mười năm lặn lội tìm gươm  báu

Một đời cung kính bái hoa mai 

Mai này trong tuế hàn tam hữu 

( Kính dâng hương hồn thầy Trần Trọng San, ân sư trong đời )


mnc 

15/10

Thursday, October 13, 2022

V Ô Đ Ề

 Đi xa về thăm vườn cũ 

Hái những bông hoa cuối mùa 

Bỗng dưng xót lòng du tử 

Nhà huyên quạnh quẽ gió lùa 


Ai biết lòng con như tấc cỏ

Làm sao đền đáp ánh ba xuân (*)


Ngọn gió mùa thu nhè nhẹ

Ôi ! giàn thiên lý đã xa 

Nấu bát canh rau nhớ mẹ 

Rưng rưng tóc trắng … nhạt nhòa 

 mai ngọc cường 

12/10



(*)Thoát từ 

Thuỳ ngôn thốn thảo tâm,

Báo đắc tam xuân huy

Mạnh Giao (Du tử ngâm)