Saturday, September 24, 2022

T Ả O T H U

 Sáng nay




Nghe lành lạnh gió heo may

Vàng rơi mấy lá mới hay thu về

Tôi cũng cảm thấy một chút bâng khuâng trong gió sớm thu về

Và lá rơi

Rơi rơi ....nhè nhẹ rơi rơi

Dường như là tiếng của thời gian trôi 

Rồi tìm lại chút hương xưa 

Bài thơ : hình ảnh nhà sư vừa tụng xong một thời kinh, đã cảm thấy thu

về trong hơi đêm lạnh, tiếng thu xào xạc trên hàng cây trước am trúc, sư quên bẵng đi tuần hương vừa tàn khi vài nhánh tùng như giăng lưới đón vầng trăng sáng

Hình tượng thiền qua ý thơ của một thiền sư thời Lý Trần 

Đọc lại nhân buổi đầu thu .


TẢO THU


Dạ khí phân lương nhập họa  bình, 

Tiêu tiêu đình thụ báo thu thanh. 

Trúc đường vong thích hương sơ tẫn, 

Nhất nhất tùng chi võng nguyệt minh.

Thiền sư Huyền Quang


早秋


夜氣分涼入畫屏, 

蕭蕭庭樹報秋聲。 

竹堂忘適香初燼, 

一一叢枝網月明。


Đầu thu

Khí đêm chia hơi mát vào bức rèm vẽ, 

Cây trước sân nhà xào xạc báo tiếng thu. 

Dưới mái tranh quên bẵng hương vừa tắt, 

Mấy nhánh tùng giăng lưới vầng trăng sáng.


ĐẦU THU


Đêm chia hơi lạnh bức rèm hoa,

Tiếng thu xào xạc trước hiên nhà.

Mái trúc bẵng quên hương vừa tắt,

Nhánh tùng giăng lưới đón gương Nga


Cao Nguyên mnc phỏng dịch


Thu phân 23 tháng Chín 2022

Friday, September 2, 2022

Đọc lại CÁI ĐÊM HÔM ẤY ĐÊM GÌ? của PHÙNG GIA LỘC

 Một câu thơ rất hình tượng và khêu gợi, đầy vẻ lãng mạn trong Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều 

Cái đêm hôm ấy đêm gì 

Bóng dương lồng bóng đồ mi trập trùng 

Cái đêm hôm ấy … cái đêm mà người cung nữ xinh đẹp hồi tưởng lại lần được hưởng ơn mưa móc của quân vương sau bao ngày vò võ  phòng không gối chiếc trong cung cấm, thật lãng mạn và đẫm chất dục tình của Cung Oán Ngâm ấy lại được Phùng Gia Lộc đặt làm tiêu đề cho một bài tự sự đau thương oan khuất cuồng nộ ghê gớm về một thảm cảnh của chính gia đình ông, một nhà văn, nhà báo phục vụ cho chế độ mà toàn dân và gia đình ông đang sống dưới sự cai trị của bọn cầm quyền bao lâu nay, mà những thảm họa vô nhân ghê gớm kinh hoàng đè lên hạng thấp cổ bé miệng ở nông thôn tối tăm cùng khổ ấy đến bao giờ! 


Cái đêm hôm ấy đêm gì? không phải là thảm cảnh đau thương xảy ra cho gia đình Chị Dậu vào thời kỳ thực dân phong kiến ở thế kỷ bị trị của dân tộc ta đâu! Cái đêm kinh hoàng mà Ngô Tất Tố kể lại trong “Tức nước vỡ bờ”, lấy bối cảnh một làng quê, căng thẳng, ngột ngạt trong những ngày sưu thuế. Tiếng trống mõ, tù và inh ỏi, tiếng thét lác, đánh đập, tiếng kêu khóc vang lên như trong một cuộc săn người. Gia đình chị Dậu thuộc loại “nhất nhì trong hạng cùng đinh”, (cái hạng người đi tiên phong trong cuộc cách mạng vô sản về sau này) nên mấy hôm chị phải chạy vạy ngược xuôi để có tiền nộp suất sưu cho anh Dậu, chồng chị. Anh Dậu đang ốm cũng bị bọn tay sai xông đến đánh trói, lôi ra đình cùm kẹp. Chị đành phải rứt ruột đem cái Tí, đứa con gái đầu lòng 7 tuổi, bán cho lão Nghị Quế bên thôn Đoài để lấy tiền nộp sưu thuế cho chồng, Ngờ đâu chị lại còn buộc phải nộp cả suất sưu của người em chồng đã chết từ năm ngoái! Thật là cùng đường. Giữa đình làng, tiếng kêu uất ức của chị vang lên thảm thiết. Đêm hôm ấy, người ta cõng anh Dậu rũ rượi như một xác chết ở ngoài đình về trả cho chị. Gọi mãi anh không tỉnh chị vô cùng hoảng sợ, đau đớn. May sao, nhờ bà con xung quanh xúm đến cứu giúp, anh Dậu đã từ từ mở mắt. Một bà lão hàng xóm ái ngại cảnh cả nhà chị nhịn đói suốt từ hôm qua, mang đến cho chị bát gạo để nấu cháo...) Nhớ lại những uất ức bi thảm cùng cực của gia đình chị Dậu, lão Hạc, Chí Phèo … của Ngô Tất Tố, của Nam Cao thời tiền chiến tưởng đã vĩnh viễn qua đi trong ánh sáng chói lọi của Đảng trong thời đại Hồ Chí Mình quang vinh hôm nay chứ. Nhưng….

Tôi đọc CÁI ĐÊM HÔM ẤY... ĐÊM GÌ . của Phùng Gia Lộc được phép đăng lên báo lề phải chính thống vào năm 1988 những năm đất nước thống nhất một nhà Nam Bắc đã hơn thập niên và đang quá độ tiến lên chủ nghĩa Xã hội bằng một tâm cảm khó hiểu, đọc mà cứ ngờ mình đang đọc chị Dậu năm xưa.  

CÁI ĐÊM HÔM ẤY... ĐÊM GÌ? Phùng Gia Lộc viết năm 1987 kể về sự việc bắt thuế của gia đình ông, trên quê hương Thanh Nghệ Tĩnh, cái nôi của cách mạng, ngọn cờ đầu của giai cấp vô sản. Cái đêm hôm ấy xảy ra tại nhà ông năm 1983. Sự xuất hiện bút ký Cái đêm hôm ấy đêm gì trên báo Văn Nghệ dạo năm 1988 giống như một quả bom bùng nổ thông tin về một sự thật  oan khuất,  kinh hoàng, ghê tởm không còn tính người  ở nông thôn nước ta vốn dĩ vẫn bị bưng bít, che giấu bởi lối tuyên truyền dối trá: sự khốn khổ của con người trong chế độ XHCN sau nửa thế kỷ hy sinh giành độc lập. 

                                                         Phùng Gia Lộc (1939-1992)   

Nhà văn kiêm nhà báo Phùng Gia Lộc sinh năm 1939 tại làng Láng, xã Phú Yên, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Phùng Gia Lộc có lúc làm thầy giáo. 

Có thời gian ông là hội viên Hội văn nghệ Thanh Hóa, công tác ở phòng văn hóa huyện Thọ Xuân, ông sáng tác rất nhiều: viết văn, làm thơ, viết kịch, cải lương, chèo, trong đó có rất nhiều vở do ông viết và dàn dựng cho các đội văn nghệ cấp xã. Ông mất năm 1992. 


Phùng Gia Lộc kể lại sau Cái đêm kinh hoàng hôm ấy thì mẹ ông ốm nặng. Phần vì tuổi cao, sống trong nghèo đói, cơ hàn, lại bị tổn thương nghiêm trọng từ cái đêm bọn cướp ngày vào nhà cướp thóc từ “cỗ hậu sự của minh” nên chẳng bao lâu sau bà cụ mất. Thương mẹ, giận mình, Phùng Gia Lộc viết đôi câu đối khóc mẹ, treo trên bàn thờ mẹ:

“Sống giữa cơ hàn nghĩa sinh ký tử quy mẹ an bài cùng đất! “

“Chết trong tức tưởi đành thất kỳ bảo dưỡng con chịu tội với trời! “ 

Nhưng bọn sai nha ở quê anh không chịu nổi. Chúng kéo đến nhà Phùng Gia Lộc, trắng trợn yêu cầu ông gỡ hai câu đối xuống. Ông phân tích giảng giải thế nào chúng cũng không nghe. Những cái đầu bã đậu cắm trên những thân xác nô lệ của chúng sao hiểu nổi văn chương, nghệ thuật. Dọa giẫm một hồi rồi chúng rút đi, nhưng hôm khác, chúng lại đến, bảo chế độ ta làm gì có ai phải “sống giữa cơ hàn và phải chết trong tức tưởi”, rằng câu đối đó là một cách tố cáo, lên án chế độ…  Ông phải phản kích, dọa sẽ kiện về hành vi vi phạm quyền tự do công dân, chúng mới chịu.


Nghe ra mà tưởng chừng sự việc đã xảy trong chế độ cũ thối nát… nhưng không nó chỉ mới xảy ra trong thời tiền đổi mới, một bước quá độ tiến lên chủ nghĩa xã hội gần đây mà thôi. 


Đọc lại nhớ lại và xin đừng quên. 

Điều gì đã xảy ra trong quá khứ vẫn có thể sống lại và tái hiện ngày hôm nay 

mnc 

Đầu Tháng Chín 2022



⚜️⚜️⚜️


CÁI ĐÊM HÔM ẤY... ĐÊM GÌ?

Phùng Gia Lộc 

Cuối năm 1983, tôi được ở nhà chờ quyết định về nghỉ chế độ. Chiều chủ nhật, thằng Học con tôi rủ rỉ nói:

- Con bắt được bác Quang ăn bánh cuốn ở hàng anh Minh. Bác đi thồ sắn ở chợ Phúc Địa về. Bác cho mấy bó nhưng con không lấy. Bác dặn con về đừng nói với bố mẹ là đã gặp bác. Nói, hôm nào sang bác đánh chết.


- Hừ! Lại thế nữa...


Tôi buột miệng bảo với con thế, rồi thừ ra. Bạn bè anh em cùng một phòng với nhau mà đi qua không vào. Có điều gì nhỉ?


Sáng thứ hai tôi sang cơ quan ứng mấy cân gạo và định bụng sẽ gặp, trút sấm sét lên đầu anh ấy. Nghe tôi trách, Lê Trung Quang, trưởng phòng tổ chức Ủy ban huyện Thọ Xuân, cười hà hà làm lành thật đôn hậu, dễ yêu:


- Giá có một mình thì tôi vào. Đằng này những bốn binh, khao được, anh cũng liệt. Vả lại, bốn cái xe nặng è, sợ tối.


Là trưởng phòng tổ chức ủy ban huyện, anh cũng để gia đình vợ con đói thiếu. Ra anh còn kém cỏi hơn cả tôi, một kẻ chân chim trần trụi, một tay sắp trở thành "phó thường dân". "Nhà mình cũng bí. Nộp sản đi rồi, lúa đã cạn. Khó mà ăn thấu tết được". Quang lắc đầu bảo thế.


Anh gạn tôi:


- Ông ở đây với tôi đêm nay cho vui. Tôi buồn quá.


Tôi chỉ vào mấy cân gạo đã bó buộc sau xe, bảo anh Quang:


- Phải mang "hàng chiến lược" này về chứ.


Nếu nghe lời Lê Quang Trung nằm lại với anh một đêm, thì tôi đã không thể nào hình dung nổi ở Phú Yên xã tôi Cái đêm hôm ấy là đêm gì...


Có cái "các" quá giang của Lê Trung Quang cho mượn, tôi không phải mất ba đồng tiền đò. Qua sông Chu gió vù vù bên tai, tôi phải kéo vành mũ len, trùm thấp cho đỡ run. Tôi về đến nhà, trời đã sẩm tối, con mực xông ra í a í ẳng vờn chân lên hông. Vợ tôi bế thằng Văn ngủ khì trong lòng, ngồi bên bếp than vỏ cao su um khói. Bên cạnh, thằng cu Thức bốn tuổi đang liến láu. Còn Học - thằng con nhớn đang học bài ở nhà trên.


Thấy tôi về thằng Thức reo lên:


- A bố! Bố về là bố về! Có chi không bố?


- Có cái rét cóng đây này!


Tôi nói rồi dắt xe vào nhà, mở túi gạo, vác xuống bếp khoe:


- Ứng được năm cân gạo.


Bà cụ thân sinh ra tôi mệt đã lâu, thấy tôi về, cũng gượng chống gậy xuống bếp sưởi. Cụ bảo:


- Mẹ Học đi nấu cơm cho bố va ăn!


Tôi hỏi:


- Nhà ăn rồi hả mẹ?


Cái thằng Thức đến là hở miệng, cấm có giấu nó được tí gì. Nó nói:


- Chỉ nấu cơm cho bà với em thôi! Mẹ với anh Học, với con ăn cháo rau má rồi. Bữa nay mẹ luộc rõ nhiều rau cải.


Tôi thấy cay sè trong mắt.


- Thế thì nấu thêm vào. Hết thì tao đi bới đất, nhặt cỏ, van ông vái bà. Làm con người mà miếng cơm chín vào bụng vẫn không đủ thì sống thế nào?


Vợ tôi định cãi câu gì đó, nhưng lại thôi, vội trao thằng Văn cho bà rồi lại mở túi gạo đi vo. Bà cụ nói:


- Rau cải ế nhăn! Đói, chả mấy người mua. Hôm nay mẹ va không đong được gạo. May lấy được đấy, không thì mai gác con lên...


Ngoài cửa gió ào ào, tiếng chó sủa ổng oảng ở đầu ngõ. Có tiếng ai hỏi mua rau cải nhà tôi. Cô Hoa vợ chú Được. Hoa cũng người họ Phùng, gọi tôi bằng bác. Chồng cô ấy là đội trưởng đội sản xuất cũ, nay vừa được rút lên làm trưởng ban định mức, rồi phó chủ nhiệm. Cô vào bếp vừa nói, vừa run:


- Sao năm nay rét sớm thế này? Bác bán cho cháu mấy bó rau cải xào.


Vợ tôi bắc nồi cơm lên bếp, mấy bà cháu phải dồn chỗ cho hai người đàn bà tê cóng này ngồi cạnh bếp hơ tay, ngó chẳng khác những viên đạn bị nén trong cái băng lò xo tròn. Tuy gần bằng tuổi vợ tôi, nhưng là hàng cháu họ, nên Hoa vẫn bác bác, cháu cháu ngon ơ.


- Bác có ngan, gà gì để cho cháu vài cân. Giá mấy cũng được, cháu không quản.


- Còn có vài ba con, phải để hôm sau bà...


Tôi lừ mắt chặn lại câu nói hớ, khiến vợ tôi im bặt. Chả là vì mẹ đẻ ra tôi yếu lắm rồi. Cụ đã bảy mươi lăm tuổi, lại phù nề mặt mũi vàng ủng như quả thị rụng. Ai cũng bảo khó qua cái đầu mùa Đông này. Vì vậy gia đình tôi đã lo chuẩn bị ngầm, phòng sau khi cụ về cõi. Cái gì vợ tôi cũng bảo dành để hôm sau bà... thành quen miệng. Cau cũng phơi kỹ bỏ be để hôm sau, thậm chí bọt bẹt được đồng rau nào cũng dồn mua ván đóng sẵn áo quan để hôm sau... Ấy nhưng nói đến cái chết, cụ lại giận và làm nau: - Bay trông tao chết à? Tao phải sống để nhìn con cháu được đến lúc sung sướng chứ. Khổ mãi rồi.


Tôi hỏi Hoa để lấp láp câu hớ rồi cho bà cụ khỏi giận:


- Mua đồ nhậu làm gì tối thế này?


- À... mua cho mấy thằng về đội ta thu sản, khuya các hắn đớp. Đội và quản trị thuê khoán cháu nấu.


Vì có chồng ở ban quản trị, cô ấy cũng là loại biết nhiều chuyện "bí mật nội bộ". Hoa thì thò cho vợ tôi biết đêm nay là đêm "đồng khởi" thu sản, tổng vét cả xã. Họ sẽ đổi chéo, công an và dân quân đội này về đội kia, vét bằng hết. Vì đội 12 này là nặng gánh nhất, nên họ sẽ điều về đây những tay cứng cựa. Hoa khuyên:


- Bác có thiếu sản, thì liệu mà xoay đi


- Thế thì tao đét bán rau cho mi nữa.


Vợ tôi toan từ chối, nhưng Hoa nài mãi và có tôi nói vào nên chị chàng mới chịu nghe. Hoa cầm đèn ra vườn soi cho vợ tôi hái. Cô ấy cầm rau, rồi còn đi các nhà bên cạnh hỏi mua gà. Cơm cạn, tôi vần cạnh bếp. Vì không phải ghế độn khoai độn sắn gì nên chín rất mau. Thấy chỉ nấu mình cơm tôi, lòng tôi lại buồn nổi gai. Vợ tôi bế thằng út vào lót cho nó ngủ trong buồng, rồi lấy cho tôi cái bát, đôi đũa. Cuộc chào mời đùn đẩy, nhường nhịn nhau rõ bực.


Tôi lùa hai bát cơm với nước dưa chua, rồi bỏ đấy. Bà cụ nài, rồi tôi dỗ thằng Thức cũng lắc đầu không dám ăn chỗ cơm còn lại. Hắn sợ mẹ. Nhà này, mẹ chúng nó có quyền uy tối thượng. Biết vậy, nhưng tôi cũng sắp trở thành kẻ sống nhờ...


Ngồi ở bếp, tôi hỏi vợ:


- Nhà mình còn thiếu của hợp tác xã bao nhiêu thóc nữa em?


Cô ấy không trả lời tôi mà nói rất vô lễ:


- Có biết thế này, đái tòe tòe vào, chứ tội gì lôi về. Cha đời! Bữa trước thì tuyên bố vớt được nấy ăn nấy, người ta mới hụp lặn xuống nước lụt mà khở (gỡ) từng bông lúa. Nay lại giở trò giảm tỷ lệ!


Tôi vỗ về:


- Thôi! Lụt thì lụt cả làng, em ạ! Em nói xem, so với tổng sản phải nộp, nhà ta thiếu bao nhiêu?


- Một tạ mười hai cân, em đã trình bày với anh Nhà đội trưởng rồi. Thực tế mò được hạt nào đã ăn hết hạt nấy. Mấy lâu nay bán được đồng rau nào mua ăn, không bán được thì nhịn. Đã nói khất rồi. Không cho khất, thì nhà đấy có dỡ được, đến mà dỡ.


- Phải mềm mỏng, em ạ! Khéo bán khéo mua thua người khéo nói! Gia đình mình, con cái mình còn ăn đời ở kiếp nơi đây.


Vợ tôi rền rĩ như sắp khóc:


- Chả nhẽ kiếm liều thuốc chuột, cho vào nồi cháo, ăn hết cả nhà cho sướng cái đời...


Ngồi sưởi ở bếp rất lâu, vỏ cao su cháy tàn, đã vạc hai ba đống than, mà chẳng ai muốn nói với ai câu nào nữa. Bà cụ ngồi lâu, mỏi và chán chuyện bỏ đi nằm. Thằng Học làm toán xong, lấy cho bà nồi than, rồi cũng rúc xuống bếp. Hắn đi bốc rơm lót ổ ngay cạnh bếp, lấy ván chắn rồi trải chiếu, ôm chăn ra nằm.


- Ngủ đây mà ấm, bố ạ!


Trong giường thằng Út Văn khóc í óe. Hắn lại đái lạnh đít rồi. Mẹ nó vào quả không sai. Nó được ôm ra bếp sưởi, nằm gọn trong lòng mẹ. Gần một tuổi mà nó còn bắt nhá cơm bón và bú thì hơn con bê non. Lại nhai tòm tọp thế đó! Tôi đùa với con để nó cười sằng sặc cho dịu cơn lo buồn.


Gần mười hai giờ khuya, cả nhà đi nằm. Tôi ngủ với hai thằng oắt trong ổ rơm dưới bếp.


Có điều gì đó bồn chồn và nơm nớp...


Bỗng tiếng kẻng gõ giục giã liên hồi. Kẻng khắp xã: từ đội 1 đến đội 15, như một sự bùng nổ dây chuyền. Tiếng loa phóng thanh mở hết cỡ đọc bản tin, kế hoạch huy động lương thực của tỉnh và chỉ thị của tỉnh ủy về công tác lương thực.


Hoàng Văn Nhân, đội trưởng đội 12, đọc trên loa danh sách những nhà thiếu thóc chưa giao nộp cho hợp tác xã. Đèn đóm soi rừng rực ở các ngã đường. Chó sủa ơi là chó sủa. Cũng cái loa phóng thanh ấy, có tiếng ông chủ tịch xã gọi cán bộ về đội 12 hội ý.


Ông trưởng công an xã Nguyễn Đình Định gào rát cổ trên loa, giọng giật giội gọi lực lượng dân quân, công an tăng cường về chi viện cho đội 12, tạo đà cho đội hoàn thành chỉ tiêu huy động. Tôi rùng mình nghĩ đội tôi là đội trọng điểm, nên cán bộ xã, hợp tác xã, vón cục cả về đây. Họ sẽ gõ cho ra chục tấn thóc còn tồn sổ.


Gần một giờ sáng, công an, dân quân đã ập đến các nhà nợ thóc. Tiếng chó sủa vang, tiếng lợn kêu èng ẹch như bị chọc tiết ở các nhà gần quanh, làm thằng Út Văn khóc thét lên, ôm riết lấy mẹ. Thằng Thức cũng im thin thít, nằm co trong lòng tôi không dám cựa. Bên nhà ông Ái, láng giềng cách vườn nhà tôi một hàng rào, công an và dân quân đang lùng sục. Tiếng ông bà Ái kêu xin và tiếng quát lác, tôi nghe rõ mồn một.


- Cứ bắt lấy cái xe đạp! Phích, xô, bắt ráo!


Ở cổng nhà tôi đã có bước chân rình rịch, con chó mực đang có chửa bị quất, kêu ử ử.


Cạch cạch cạch.


- Chị cò Lộc, mở cửa ra!


Tiếng thằng bé trong buồng khóc thét. Thằng Thức đang ôm tôi, nghe em khóc cũng òa khóc toáng lên. Thằng Học mười hai tuổi đã học lớp tám rồi, mà cũng níu lưng tôi run bắn. Nghe tiếng quát lần thứ hai, từ nhà bếp, tôi chạy lên. Một luồng đèn pin soi giữa mặt làm tôi lóa mắt, phải lấy tay che.


- Có chuyện gì đấy, các bạn trẻ ơi?


- Thu thóc, thu thóc chứ còn gì, ông đừng hỏi vờ.


Vợ tôi đã mở toang cửa, tay ôm thằng bé ngất lịm. Một anh, hai anh... bốn anh bạn trẻ ùa vào nhà. Anh đi đầu cao to, tóc cắt tăng gô, mặc áo bông thùng thình, soi đèn pin rồi đánh diêm châm cái đèn hoa kỳ ở bàn thờ. Có lẽ Tâm "hộ pháp" là người này. Phải, tôi đã thấy anh ta đứng chân hộ vệ giữa, trong một cuộc đá bóng với xã khác. Tay anh cầm cái choòng sắt cỡ ngón tay cái. Vợ tôi mời họ ngồi ghế. Bà cụ đang ốm ở giường bên cũng cố ngóc dậy, run rẩy chào.


Theo danh sách đội báo, chị còn thiếu hơn tạ thóc. Yêu cầu chị đem nộp ngay!


Bà cụ tôi đáp thay con dâu:


- Các bác các anh ơi! Có còn cái gì mà nộp. Các anh và các bác không thấy đàn con hắn đói xanh đói trong đi à? Các bác không thấy tôi cũng phát phù phát nề, vàng cây úa lá đây à?


- Chúng tôi không hỏi mụ nghe chưa?


Cả bốn người cùng soi đèn pin khắp nhà trong, nhà ngoài, dưới bếp, bên chái. Hai người tuông soi cả trong vườn rau. Vợ tôi mếu máo:


- Làm gì có lúa để ngoài ấy. Các anh xéo nát cả rau.


Tôi chạy ra trụ sở đội, định tìm cán bộ trình bày. Chủ tịch Phê, bạn dạy học với tôi ngày trước, đi bộ đội về giải nghệ, vào cấp ủy, đang đứng đấy. Thấy thế tôi mừng quýnh. Lại thấy cả Phùng Gia Miện anh họ tôi, làm bí thư đảng ủy cũng có mặt, tôi càng yên trí. Nhưng thấy tôi họ quay đi lảng tránh.


Anh Miện bảo nhỏ tôi:


- Chú về động viên gia đình thanh toán bằng đủ, nhà mình là cán bộ. Không có thóc thì nộp bằng tiền. Lãnh đạo đã nhất trí cho nộp cả bằng tiền rồi đó.


Tôi đang định nói: "Đã không có thóc thì làm cóc gì có tiền", nhưng anh họ tôi đã dịu giọng:


- Ở đội trên, hắn bắt cả anh Thiện, anh ruột tôi, mà tôi cũng phải điếc đi... "Mất mùa màng, lợi ích thứ ba của người lao động phải hy sinh cho lợi ích của nhà nước". Đồng chí bí thư tỉnh ủy đã chỉ thị thế, chú biết rồi đó.


Lúc ấy ở trụ sở, công an, dân quân đã khuân về nào xe đạp, bàn ghế, tủ, chum vại, thùng tôn, lợn gà... để ngổn ngang ra tận ngõ. Tên chủ nhà thiếu thóc đề chữ bằng phấn trắng vào các đồ vật: Ông Ất, ông Do Khả, ông Hưng, ông Hồng, ông Khính (mẹ đẻ cô Hoa, mẹ vợ chú Được phó chủ nhiệm)... Mấy con bò bị bắt cột gần đó sợ đèn, sợ đám đông cứ lồng lên, chực bứt mũi. Chúng xoay vòng quanh, mgửa lên mặt kêu "hấp bồ", "hấp bồ"...


Tôi loạng choạng đi về nhà, thấy người ta đang còn soi đèn tìm rất kỹ. Tôi nói:


- Các người anh em soi tìm gì cho mất công. Nhà tôi xin khất đến mai, tìm cái bán chác, nộp tiền bằng đủ.


Anh đầu tốp nháy nháy mắt ra hiệu.


- Đêm nay là đêm nay! Mai chúng tôi mất thưởng ai chịu cho?


- Bắt cái xe đạp ni, bay!


Hai ba anh chạy lại. Tôi từ tốn ngăn họ:


- Các đàn anh ơi! Tôi không làm ruộng sản mà. Đây là xe đạp nhà nước cấp cho tôi để tôi đi công tác. Các vị bắt cái này không được đâu.


- Nếu chúng tôi cứ bắt thì sao?


Tôi loáng nghĩ được một mẹo. Rút cái "thẻ hội viên Hội văn nghệ tỉnh" ra, tôi nói:


- Tôi phản đối! Tôi là "nhà báo"! Tôi sẽ kiện lên tận ông Đồng.


Nước cờ của tôi không ngờ lại có hiệu quả. Họ im lặng. Hẳn họ đã biết tên tôi dưới những bài đăng nào chăng.


Chợt vị "hộ pháp" nhìn chằm chằm vào cỗ quan tài để dưới gầm bàn thờ, rồi đi lại, vừa gõ vừa hỏi:


- Cái gì trong này, chị Lộc?


Im lặng...


- Cái gì trong này, chị nói mau?


Vợ tôi ấp úng. Tôi muốn tắc thở.


- Có cái gì đâu...


Mấy vị hăm hở lại, đạp lật nghiêng một cái. Nắp ván thiên bung ra, lúa chảy rào rào. Cả toán reo lên như một hiệp đào vàng trúng vỉa:


- A! Lúa! A lúa! Lúa! Anh em ơi. Ghê thật! Thế mà giả nghèo giả khổ.


Mẹ tôi chống gậy vái dài:


- Van các anh! Cắn rơm cắn cỏ tôi lạy các anh! Lúa của tôi. Đó là tạ lúa hai đứa con gái hắn mua góp lại cho, để hôm sau tôi chết, bà con thương mà chạy đến để ăn lưng cơm sốt.


Thực ra là của hai bà chị trong đó mỗi người có mười cân thôi. Ba mươi chín cân tiêu chuẩn hai tháng vừa qua tôi lấy về, còn lại là hơn bốn mươi cân, vợ tôi đong để dành "hôm sau" cho bà.


Bà cụ nói như rên rẩm:


- Đã bảo xay phứa đi cho con nó ăn không nghe. Cứ bóp mồm bóp miệng, để dành làm chi. Sống chả thấy đâu nữa là!


Một tay râu tóc lồm xồm hỏi:


- Chị có gánh đi hay không thì bảo?


Một tay khác tôi hơi quen mặt, đến trước vợ tôi lạy lia lịa:


- Thôi em xin bà chị. Em đi làm ở đây thế này, nhưng lại có bọn khác đến chỗ em làm ác y hệt. Nhà em cũng thiếu mà. Chị không gánh, để cánh này bê cả hòm ra, chị phải chịu hai chục công là ít, chưa nói phạt tiền.


Họ xúm vào khiêng bàn thờ ra, để lôi hòm lúa. Bất đồ hai thằng Học và Thức từ bếp tuôn lên, ôm lấy tay chân chư vị, van rối rít.


- Cháu van các chú! Các chú đừng lấy lúa này đi. Lâu nay các cháu phải nhịn để dành bữa sau cúng cỗ bà, làm ma bà!


- Buông ra đi! Ô hay, đồ con nít!


Bà cụ loạng choạng đi lại, giơ gậy cản:


- Các ông không thương trẻ, thì các ông thương lấy thân già, để lấy phúc đức cho con cháu.


Vì họ đá vấp gậy, lại yếu như con căng cắc lột, bà cụ ngã chỏng queo như chiếc ghế đổ.


- Ối Đảng ôi là Đảng ôi! Chính phủ ôi... Trông xuống mà coi...


Tôi xốc mẹ lên giường, bịt mồm cụ lại:


- Mẹ! Mẹ không được la như thế! Đây không phải Đảng! Đảng ta không làm thế. Đảng không chủ trương thế này!


Tôi nói vậy và ngoặp hai hàm răng vào cổ tay mình để kìm giữ cái gì cứ chực tung ra. Hai vợ chồng xúc hết lúa ra thúng bì. Dặn thằng Học trông em, ngó bà, tôi cùng vợ hì hục gánh thóc ra trụ sở nộp...


Đoạn cuối này tôi dành cho anh Quang.


Lê Trung Quang ơi! Anh có thể giấu cái bi kịch của gia đình anh, nhưng tôi không còn có thể che giấu nỗi đau của nhân dân bất hạnh. Dù sự tiết lộ này có làm mất cái chức huyện ủy viên của anh, thì tôi cũng thấy cứ phải nói ra.


Chuyện thật của nhà anh đây: lúa vay ăn còn nợ bảy tạ, con Lâm, thằng Sơn phải đi mò hến từng bữa, chị ấy nấu bánh đúc đi các làng đổi lúa. Anh mà nói ra, người ta cho là anh bêu riếu. Việc thật ở nhà tôi đêm 26 tháng 11 năm 1983, người ngoài cuộc hẳn cho là mình bịa. Cho đến nay, mỗi khi nghĩ đến, tôi cứ thảng thốt hỏi mình: "Cái đêm hôm ấy... đêm gì?"


PHÙNG GIA LỘC 

Cuối năm 1987

Saturday, August 27, 2022

TƯỞNG TIẾC NGUYỄN MẠNH TRINH

 Mùa Vu Lan năm nay,  vừa qua đây mấy ngày, tình cờ tôi được đọc một bài hồi ức về mẹ thật xúc động của Nguyễn Mạnh Trinh. 



Ông viết: 

“…  năm 1972. Lúc đó, tôi ở Pleiku và quá giang chiếc trực thăng ghé về thăm nhà ở lại một đêm rồi sáng trở lại đơn vị trong cùng một chuyến bay. Khi về nhà, lúc ấy buổi xẫm tối, tôi vội vàng lấy xe để đi chơi thì bất ngờ có một hình ảnh làm tôi khựng lại. Hình ảnh của mẹ tôi ngồi trước bàn thờ Phật với tiếng kinh trầm và mùi hương ngát. Tôi biết mẹ tôi đang cầu nguyện cho đứa con ở xa. Lúc ấy, chiến tranh đang khốc liệt với nhiều chết chóc. Ở xóm tôi, đã có nhiều chiếc xe GMC chở về quan tài phủ cờ của những người lính tử trận là những đứa bạn thuở ấu thời của tôi. Và tự nhiên tôi dắt xe vào nhà, …”

“Góc hiên đôi mắt cuộn tròn

Dong tay nắng cũng hoàng hôn bóng trời, 

Mẹ ngồi chải tóc sợi rời

Đậu  vai áo một nụ cười thêu hoa

Mây rơi rụng xuống mái nhà

Màu lá biếc cũng nhạt nhòa cành vui

Cổng gió cửa đóng ngùi ngùi

Nghe sóng cuộn giữa ghềnh trôi óc thầm

Mẹ ngồi bóng xế trăm năm

Tay lần chuỗi, tiếng kinh trầm trầm bay

Khói sương ở đỉnh núi tây

Nên xa xăm lắm tháng ngày mênh mông

Đi về xuôi ngược bến sông

Chiều như đang rụng xuống lòng phố quên

Mẹ ngồi như tạc nỗi niềm

Tóc phơ phất gọi tịnh yên trong hồn

Kinh đen con nước xuống ròng

Trơ gốc cọc để trống không mặt lầy

Đi về tôi vẫn loay hoay

Chợt nghe lạnh ngọn heo may cuối trời

Mẹ ngồi một thuở ấu thời.”

Từ hình ảnh mẹ ngồi cầu nguyện cho con được bình an nơi chiến trường xa. Nguyễn Mạnh Trinh đã đổi ý không đi chơi nữa và viết bài thơ về Mẹ như trên. 

Ông kể tiếp: 

“Tôi nhớ lại lúc ấy trời mờ mờ tối. Tuy vội vàng vì có hẹn với cô bạn gái, nhưng có điều gì giữ tôi lại. Không phải là tiếng kinh hay mùi nhang khói, cũng không phải là đôi mắt Phật Bà hiền từ trên bàn thờ. Mà, bởi vì cái vóc dáng của mẹ ngồi, trong không gian, thời gian vô cùng tĩnh lặng cầu nguyện cho mình. Thế mà, bỏ đi thì không đành lòng. Tối hôm ấy, tôi trằn trọc trong chỗ nằm của mình, với cảm giác bâng khuâng khó tả. …

Tôi nghĩ mình không phải là một đứa con ngoan ngoãn. Tôi có tuổi nhỏ ngỗ nghịch và ở trong xóm là đứa đầu têu cho những chuyện nghịch phá. Lớn lên, lại không cố gắng học đại học như anh tôi hoặc đứa em tôi mà lại đi lính. Trong khi mẹ tôi thì chủ trương dù nghèo thế nào chăng nữa các con bà cũng phải học cho đến khi không còn cố gắng được nữa dù bà là một người ít học. Năm Mậu Thân cha tôi mất, rồi nhà bị cháy, nhưng mẹ tôi vẫn cố gắng xây dựng lại với một nỗ lực vô biên.” 

Bài hồi ức về mẹ của ông dài lắm, tôi chỉ tóm ý chính như sau: Tháng Tư 75 đến, mẹ ông và gia đình lớn của ông may mắn vượt thoát cùng đoàn người di tản rồi định cư nơi quê hương mới.

Riêng ông bị kẹt lại, đi tù. 

Rồi vượt biên, đoàn tụ với mẹ. 

Rồi mẹ khuyên đi học lại để có một cái nghề. 

Ông kể : 

 “Mỗi buổi sáng sớm mẹ tôi dậy sớm sửa soạn bữa ăn sáng cho tôi và mấy đứa cháu cũng như bới cơm mang đến trường. Trên bàn ăn là một dãy năm cạp lồng cơm để thứ tự và món ăn thay đổi ngon lành. Kết quả là bây giờ, mấy chú cháu, cậu cháu đều tốt nghiệp hậu đại học và đều có công ăn việc làm tốt. Và, như thế mẹ tôi hài lòng lắm.” 

Nhờ mẹ hết lòng vì con cháu, ông ra trường có việc làm rồi lập gia đình. Rồi thời gian trôi đi vòng sinh lão bệnh tử đưa mẹ ông xa rời nhân gian. 

Vu Lan vừa qua ông đến chùa được một cô bé cài lên áo một bông Hồng trắng …

Ông nhớ đến mẹ và viết “hồi ức về mẹ” thật cảm động mà tôi cũng mới vừa đọc xong dạo tháng qua. 

Tôi quý tài thơ, tài văn và nhân cách ông Nguyễn Mạnh Trinh. Một phần vì ông từng là người lính như tôi. … từng trải đời trai thời chiến nơi rừng núi Pleiku. 

Thế mà …. tin ông vừa “giã từ vũ khí” đột ngột lìa đời đã làm tôi hụt hẫng. Có thể mau đến thế sao…

Như ông đã viết trong hồi ức về mẹ …

“Có một lúc nào như khi trong trại cải tạo nghe bài “Lòng mẹ“ tưởng không bao giờ gặp lại khi mẹ tôi đã di tản vào những ngày tháng tư năm 1975. Hay như bây giờ nghe bài “Bông hồng cài áo“ để thấy trong dạ thổn thức. Lúc ở nghĩa trang, nhìn những con chim sáo đen mổ những hạt cơm cúng, tự nhiên tưởng tượng đến những ngã đường nào mù mịt trong cõi âm phần. Ra đi hay trở về, hiện tại không xác định được. Nhưng chỉ mường tượng một điều cuộc sống sẽ còn dài chẳng phải ngày một ngày hai mà chấm dứt…”

Ông đã về bên Mẹ nơi cõi vô cùng. 

Tin mới cho hay:

 Nhà thơ Nguyễn Mạnh Trinh đã qua đời lúc 4 giờ sáng thứ Ba, ngày 24 tháng 8, 2021 tại tư gia. Hưởng thọ 73 tuổi. 

Tưởng tiếc Nguyễn Mạnh Trinh


 

   mnc 

 Một ngày cuối tháng 8/2021

Monday, August 22, 2022

N H ỮNG C Á N H C Ò

 



Sân vắng, cò diệc đậu 

Thềm hoang, cỏ hoa nhàu.

Ngày tháng cứ trôi người vẫn cũ 

Một hồn cổ tích chẳng thay màu 


Cơn mưa ban sáng mang lại chút tươi mát cho cỏ cây ngày tháng hạn. 

Vài cánh cò sớm bay về đậu trên khung sân vắng. 

Những cánh cò thung thăng bay lượn trên khung trời tự do 

Thoải mái đậu trên đất lành 


Lộ diệc vũ trùng trung chi nhất 

Thương cái cò lặn lội bờ sông

Tiếng nỉ non gánh gạo đưa chồng

Ngoài nghìn dặm, một trời, một nước.

Nguyễn Công Trứ 





Bỗng dưng lại nhớ đến những cánh cò tần tảo, chung thủy gánh gạo nuôi chồng trong tù năm xưa. 

Những cánh cò được đền đáp bằng tình yêu và bình  an trên đất nước tự do 

Pearland, 

Sunday 14/8

C Ả M T R Ă N G

   mai ngọc cường 

 


 “Cử đầu vọng minh nguyệt

  Đê đầu tư cố hương”

                       (Lý Bạch)

(Ngẩng đầu nhìn trăng sáng

Cúi đầu nhớ cố hương) 



Bạn gửi ta vầng trăng 

Nơi phương bạn trăng sáng 

Phương ta trời u ám 

Một trời mây xám mầu 

Tìm chẳng thấy trăng đâu

Suốt đêm nằm thao thức

Cử đầu rồi đê đầu 

Trăng cũng là ẩn ức 

Thức cùng ta đêm nay 

Cúi đầu trên trang sách

Một vầng trăng Lý Bạch 

Sáng rực cả thiên thu

mnc 


Không đâu nhiều trăng hơn trong thơ Lý Bạch. Trăng bàng bạc, trăng ngời ngợi  trong thơ của lãng mạn trích tiên. Lung linh trăng sáng suốt thế giới thi ca Lý Thái Bạch. Trăng từ kinh thành sáng đến tận thiên san. Say sưa cùng trăng, thức cùng trăng, ngủ cùng trăng và chết cùng trăng … chỉ có Lý Bạch thời thịnh Đường. 

Mãi về sau có thêm Hàn Mặc Tử đau đớn cùng trăng đến độ phải rao bán vầng trăng và….chết đau thương bên trăng. 


Bạn gửi ta vầng trăng 

Trăng phương này cũng lạ

Trời đã vào cuối hạ 

Trôi một dòng ngân hà

Trăng vẫn sáng bao la

Ngẩng đầu nhìn trăng sáng 

Cúi đầu nhớ quê xa


 

mnc 

rằm tháng bảy

S Ợ I N G Ắ N S Ợ I D À I

 

Trần Mộng Tú phóng tác 



– Anh đi cắt tóc đi, tóc anh coi bộ mất trật tự rồi.

Anh chỉ mỉm cười, lắc lắc cái đầu mình nói:

– Anh thấy cũng đẹp đấy chứ, anh nghĩ không cần cắt đâu.


Hai người bắt đầu tranh cãi về kiểu tóc mới của anh. Anna cho rằng, đàn ông con trai thì nên cắt tóc ngắn, tóc dài để cho phụ nữ. Hai bên không ai chịu nhường ai. Cuối cùng Anna nói:

– Anh muốn để tóc dài tùy anh, tôi đi kiếm người bồ khác, tôi không thích đàn ông để tóc dài. Tôi cho anh hai tuần suy nghĩ, tùy anh quyết định.


Joe ngẩn người ra vì quyết định của bạn gái. Ô hay, tóc dài hay tóc ngắn thì sao, miễn anh vẫn là một “người tình tử tế” vẫn yêu cô, anh đâu có thay đổi tính tình gì, dù tóc anh dài hay ngắn.


Nhưng Anna không chịu, cô không muốn bạn bè cô nhìn anh với ánh mắt có chút ngạc nhiên.


Mỗi lần gặp nhau, tóc Joe lại dài hơn một chút và tình cảm của hai người hình như “ngắn lại” một chút. Cuối cùng khi tóc Joe qua khỏi mang tai thì họ chia tay. Joe không chịu cắt tóc và Anna cũng nhất định không chấp nhận có một anh bộ tóc dài.

Chia tay cả hai cùng buồn vì từ hơn hai năm trước yêu nhau, cả hai người đều được bạn bè coi như một “cặp đôi hoàn hảo” vì tính tình họ rất hòa hợp, chiều thuận nhau gần như trên nhiều khía cạnh đời sống. Một đám cưới đã đôi lần được cả hai cùng phác họa ra.

Joe rất buồn, nhưng anh đã nhất định để tóc dài lúc này. Hơn bao giờ hết anh yêu mái tóc của mình và mong nó càng dài càng đẹp.


Anna chia tay với bạn trai, nhưng cô vẫn âm thầm theo dõi mái tóc vô tổ chức trên cái đầu người đàn ông mình yêu. Thỉnh thoảng cô lại nói một mình: Không lẽ anh ta lại yêu cái kiểu tóc thời thượng này hơn cả tình yêu của mình? Điều này khiến cô tự ái, không thèm để ý nữa. Cô đi tìm một người bạn trai có mái tóc thật ngắn như tóc của mấy người trong quân đội. Nhưng cũng chỉ một thời gian ngắn rồi chia tay. Cô khám phá ra là không thể chỉ yêu qua mái tóc được, còn phải phụ thuộc vào nhiều điều kiện khác, và những điều kiện khác thì không ai hợp và đủ tiêu chuẩn với cô bằng Joe.

Cô không gặp anh nhưng vẫn theo dõi anh, và cô thấy mái tóc của anh sau hơn một năm nó đã dài quá vai anh rồi. Anh cột nó lại bằng một sợi thun và vẫn đi làm. Cũng may là công việc của anh chỉ làm trong văn phòng, anh không phải đi giao dịch với bên ngoài nên đầu tóc của anh không có gì trở ngại cho giao tế cả.

Còn Joe, anh để tóc dài và anh biết là người yêu của anh rời xa anh vì cái đầu tóc này, nhưng anh không chiều theo nàng được.


Trên đời anh có một người phụ nữ khác anh còn yêu hơn cả mối tình của mình.


Sau hơn hai năm, tóc xuống ngang lưng, Joe biết là đến lúc cắt được rồi. Anh nghĩ đến Anna và muốn cô đi với anh tới nơi cắt tóc. Anh cầm điện thoại lên:

– Alô, Anna, anh đây, em có muốn đi cùng anh đến nơi cắt tóc không?

Một phút im lặng ở đầu dây bên kia. Anh kiên nhẫn chờ. Cuối cùng tiếng Anna cất lên, nhỏ nhưng rất rõ:

– Em đến ngay.

Anna biết là Joe yêu mình nhiều lắm, cuối cùng thì anh cũng phải theo ý mình. Cô ra xe phóng ngay tới nhà Joe.

Joe đã ra xe chờ sẵn trước cửa nhà mình. Anh đón cô sang xe mình và đưa cô tới một nơi chuyên môn làm tóc giả.

Joe đã phải trả một số tiền khá đắt để thuê họ lấy tóc mình làm mái tóc mới cho một phụ nữ.

Anna đứng im nhìn người ta cắt tóc Joe, và nghe Joe nói chậm rãi:

“Mẹ anh bị ung thư não và “hóa trị” đã làm bà rụng đến sợi tóc cuối cùng. Anh là một trong sáu người con của bà, và anh luôn luôn cứ nghĩ trong đầu là Mẹ yêu mình nhất. Mái tóc này Mẹ cho anh từ thuở mới sanh thì bây giờ anh phải chia sẻ lại cho bà.”


Anna không nói được lời nào, nước mắt cô ràn rụa.


Joe cũng biết là Anna rất yêu anh, cô sẽ yêu anh hơn nữa, khi cô biết anh để tóc dài cho Mẹ anh, cô chắc sẽ không còn so đo “sợi ngắn, sợi dài” nữa.

Trần Mộng Tú 

Phóng tác theo bản tin của today.com:




Man Shaves Head to Make Wig For Mom with Brain Tumor.

Friday, August 5, 2022

T H Á N G B Ả Y M Ư A N G Â U

 

   (Hình: Tranh Ngưu Lang Chức Nữ đời nhà Nguyễn 1897 do Giám thủ thư lại Lê Đức Trạch thực hiện)

                                                                  ⚜️⚜️⚜️

Mấy tháng hè, trời không mưa. Nóng tăng dần lên 3 con số. Hầm hập, hanh hao cháy cỏ cháy cây, cháy cả lòng người. Vẫn không một giọt mưa. Đã qua 4 ngày đầu tuần tháng 8. Xế chiều trời vẫn còn nắng, vẫn còn sáng, vẫn còn nóng… nhưng mây từ đông nam  kéo tới tiết trời dịu hẳn đi. Và mưa. Ôi! Đã có những giọt nước từ trời rơi trên vuông cỏ cháy sau vườn. 

Mấy tháng hè, trời không mưa. Nóng tăng dần lên 3 con số. Hầm hập, hanh hao cháy cỏ cháy cây, cháy cả lòng người. Vẫn không một giọt mưa. Đã qua 4 ngày đầu tuần tháng 8. Xế chiều trời vẫn còn nắng, vẫn còn sáng, vẫn còn nóng… nhưng mây từ đông nam  kéo tới tiết trời dịu hẳn đi. Và mưa. Ôi! Đã có những giọt nước từ trời rơi trên vuông cỏ cháy sau vườn chiều nay. 



“Giọt mưa mưa ngâu mưa ngâu

Búp non trên cành cành lá biếc

Giọt mưa mưa ngâu mưa ngâu

Tròn xoe chiếc ô trên đầu …

Từng giọt mưa ngâu rớt bên thềm…🎶”


Những giọt reo vui rơi rơi trong chiều như ca khúc Mưa Ngâu của Thanh Tùng bật lên trong đầu tôi! Ừ! Mưa thật và mưa ngâu thật rồi. Những giọt mưa đầu tiên rơi xuống vườn tôi chiều nay đúng ngày thất tịch, ngày 7 tháng 7 âm lịch mỗi năm là ngày Ngưu lang-Chức nữ gặp nhau sau một năm dài xa cách như trong truyền thuyết 

Tục truyền tháng bảy mưa ngâu,

Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền. 

Nhà thơ Trần Tế Xương lấy hai câu ca dao tháng bảy mưa ngâu để viết thành bài thơ 


Vợ Chồng Ngâu 

“Tục truyền tháng bảy mưa Ngâu,

Con trời lấy chú chăn trâu cũng phiền.

Một là duyên, hai thời là nợ,

Sợi xích thằng ai gỡ cho ra?

Vụng về cũng thể cung nga,

Trăm khôn nghìn khéo chẳng qua mục đồng.

Hay là sợ muộn chồng chăng tá?

Hơi đâu mà kén cá chọn canh!

Lấy ai, ai lấy cũng đành,

Rể trời đâu cả đến anh áo buồm.”


Vợ chồng Ngâu là Ngưu Lang, Chức Nữ trong câu chuyện cổ tích Trung Hoa liên quan đến bầy quạ bắc cầu Ô Thước cho đôi tình nhân bất hạnh gặp trong đêm thất tịch tháng Bảy mưa ngâu. Câu chuyện cổ theo dòng văn hoá lan qua nước ta từ thời xa xưa nên Việt Nam ta cũng có cổ tích Chàng Ngưu Ả Chức 

  

   “Nọ thì ả Chức chàng Ngâu

  Tới trăng thu lại bắc cầu sang sông

                           ( Chinh Phụ Ngâm )

Chàng Ngưu hay Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng, vì say mê Chức Nữ, một tiên nữ phụ trách việc dệt vải trên Thiên Đình, nên bỏ bê việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng giận dữ, bắt cả hai phải ở cách xa nhau, người đầu sông Ngân, kẻ cuối sông.


Quân tại Tương giang đầu 

Ngã tại Tương giang vĩ 

Tương tư bất tương kiến 

Đồng ẩm Tương giang thủy 


Chàng ở đầu sông Tương 

Thiếp ở cuối sông Tương 

Nhớ nhau mà không gặp 

Cùng uống nước sông Tương 


Đôi tình nhân xa cách nhau bên hai đầu sông Tương trong thơ Lương Ý Nương có khác gì Chàng Ngưu Ả Chức và dòng Ngân Hà ngăn đôi bờ thương nhớ 

Chuyện kể về sau Ngọc Hoàng thương tình nên gia ơn cho hai người mỗi năm được gặp nhau một lần vào đêm Thất tịch - ngày 7 tháng 7 âm lịch trên nhịp cầu Ô Thước do bầy quạ liên thành bắc nhịp trên sông Ngân. Và chỉ một đêm. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. 

Nước mắt của họ rơi xuống trần hóa thành cơn mưa và được người dưới trần gian đặt tên là mưa ngâu.

Giọt mưa mưa ngâu mưa ngâu 🎶  …(Nhớ ơi ! Ngưu Lang và Chức Nữ)

Giọt mưa ngâu hay là nước mắt ai nhớ nhau

Chuyện tình yêu như là những cơn mưa trong đời đầy nắng gió

Để trên mi ai bây giờ ướt đẫm mưa ngâu 🎶

         “Nhớ ai như vợ chồng Ngâu

   Một năm mới gặp mặt nhau một lần"

Cơn mưa ngâu thoáng qua trong chiều thất tịch chưa đủ thấm lớp đất hạn nhưng lòng tôi như cây cỏ chợt vui. 

Lại lần thẩn nghĩ nếu tháng Bảy không mưa vào đêm Thất tịch thì sao nhỉ ?! 

Nắng mưa là việc của trời. Trời mà không làm mưa đúng hôm nay là trời còn giận vợ chồng Ngâu. Dù suốt năm nóng lòng chờ đợi ngày này để gặp lại nhau cho thỏa thương nhớ, chúng nó vẫn phải chịu cách xa. Chỉ biết nhìn nhau mà lòng đau. Nếu trời không mưa đêm nay thì đôi lứa yêu nhau ấy vẫn phải chịu cảnh đôi đứa đôi nơi. Không mưa, không có Ô Thước bắc cầu thời

Vợ chồng Ngâu vẫn không thể gặp được nhau nên không có nước mắt đoàn tụ, nước mắt chia ly thành mưa rơi xuống trần gian trong đêm thất tịch . Đêm thất tịch không mưa thành đêm thất tình !? Thế là buồn.

Nhưng trời đã mưa chiều nay 

Trời cho tháng bảy mưa ngâu 

Để cho ả Chức chàng Ngưu xum vầy 

Vui thay ! 

Không biết đôi tình nhân bất hạnh trong cổ tích ấy có vui có buồn trong cơn mưa chiều nay không nhưng có lẽ đám cây cỏ trong vườn tôi cũng tươi mát thêm một tí chờ qua cơn nắng hạn. 

mnc 

Thất Tịch 


4/8/2022