Thursday, December 24, 2015

CÓ PHẢI EM, MÙA THU?

Có phải em , mùa thu?

Mấy ngày rồi, thức dậy từ sớm, trời vẫn còn tối, trời âm u, xam xám, mặt trời dường như còn ẩn núp nơi nào. Mây trắng xám giăng giăng, huyền ảo, nên thơ. Không còn bắt đầu con số 9 , mà dễ thương làm sao khi có số 7 đứng đầu. Vài cơn gió mát mơn man trên cành lá, tóc nhè nhẹ bay . Thật thoải mái. Dường như có chút thu muộn ở đâu đây. Gần hết tháng 10 rồi mà nàng thu vẫn còn muốn chơi trò trốn tìm. Ta nhớ em, mùa thu. Ta cần em, mùa thu.
chút thu ở quận Cam...
Tôi đi tìm lại một mùa thu
Trong ánh mắt thân thương
của một bờ vai yêu dấu...
 Dẫu rằng tìm mùa thu vàng ở quận Cam này không phải là dễ. Thế nhưng đi đó, đi dây , cũng thấy được chút lá vàng vương trên lối đi ,những chiếc lá vàng khô ở một sân cỏ nào đó, để rồi thích bước vào , để như những con nai vàng...đạp trên lá vàng khô ...Cảm giác thật thú vị, thật tuyệt..Lòng bâng khuâng xao xuyến.

                                           
 

Sáng nay, trời chủ nhật không còn ánh nắng chan hòa của ngày hôm qua, mà ông mặt trời vẫn e ấp ẩn hiện sau những đám mây xám . Ghi lại vài hình ảnh của em , mặt trời thu. Không được đẹp lắm nhưng vẫn muốn khoe ông mặt trời sáng chủ nhật 25 tháng 10 của tôi.

                               

      PHƯƠNG LAN hb
10/25/2015 9:48 AM                       

THỜI TỴ NẠN TUỔI LƯU VONG

THỜI TỴ NẠN TUỔI LƯU VONG
Trần Mộng Tú ♦ 9.10.2015.


                                      


Con cá đá Xiêm mua từ tháng hai, chết một tuần nay rồi. Như vậy là từ khi về nhà tôi, nó sống được 7 tháng và nó đã được giữ vai chính trong truyện “Mùa Phấn Hoa Anh Túc” của tôi.
Người bán cá bảo nó có thể sống lâu hơn nữa cơ. Nhưng một tuần đi xa nhà, trước khi đi tôi quên thay nước, khi về thấy nó bơi uể oải trong bình nước đục tôi biết ngay là nó bị bệnh trong nước bẩn rồi. Tôi vội thay nước và nhớ thay thường xuyên. Nó sống, nhưng cái giải đuôi như lụa của nó không uốn lượn phất phơ nữa. Nó bơi lừ đừ, cái đuôi thỉnh thoảng mới đưa nhè nhẹ, như một ông lão đi chậm chạp, cầm cái quạt giấy, thỉnh thoảng mới phất phơ. Tôi biết là nó sắp sửa phải vào Hospice rồi. Cuối cùng, một buổi sáng nó nằm im dưới đáy bình, trên mấy cái lá rong xanh như một người bình thản đặt đầu trên gối lụa.
Tôi đem nó ra ngoài vườn, bới sơ dưới gốc cây Mộc Lan một hố nhỏ bằng cái chén ăn cơm, cho nó nằm vào, lấp đất lên. Cái thân bé nhỏ mong manh của nó chỉ cần mấy hôm sẽ tan vào đất.
Cái bếp của tôi tự nhiên vắng ngắt, im lặng mặc dù Biga (tên hai đứa bé đặt cho cá) trước đây chẳng bao giờ cất tiếng hát. Tôi đang nghĩ không biết sẽ trả lời hai đứa cháu ngoại thế nào khi chúng sang chơi, hỏi “Biga đâu?”
Một tuần không có Biga tôi không có bạn trong bếp, cái bình thủy tinh trong suốt nơi tôi cho vào đó một cụm thủy trúc nhỏ có Biga bơi bơi nay chỉ còn nhìn thấy đám rễ vàng hoe. Nhà của Biga hay được để giữa cái bàn ăn nhỏ trong bếp này, tôi thường vừa nấu ăn vừa thỉnh thoảng ngắm nghía. Nhất là buổi sáng, một mình trong cái bếp yên tĩnh, vừa ngồi nhâm nhi cà phê vừa hỏi chuyện Biga vài ba câu, vừa nghe chim hót trên cây mộc lan ngoài vườn, đôi khi tôi nhớ đến câu thơ hay.
Xuân gần tàn/ Hoa tràn lệ/ Con mắt cá rưng rưng. Đó là một vần thơ Hài Cú của Basho. Tôi đã đọc cho Biga và tôi cùng nghe.
Đối với tôi những con vật be bé hiền lành hay những loài hoa cỏ nho nhỏ, nhất là những loại nhắc đến quê nhà, rất cần thiết, tôi không thiếu chúng nó lâu được.
Sáng nay tôi ra Pet Shop dán mũi vào mấy cái chậu cá vàng, nhìn mãi, biết là mình không mua được vì nhà không có hồ cá (lý do không biết đặt máy lọc nước và thay nước) lại dán mắt vào mấy cái hộp nhựa nhỏ đựng riêng rẽ từng con cá đá. Loại này không thể hai con sống chung một bồn với nhau được, khi cả hai cùng phái. Chúng nó sẽ đá nhau tới chết, Fighting Fish mà. Đó là lý do tại sao Biga phải sống cô đơn.
Tôi thấy con cá với cái đuôi màu đỏ có nhãn là Rose petal khá đẹp nhưng giá tới hai mươi đồng. Hôm trước tôi mua Biga có bẩy đồng. Đắt quá! Tự nhiên tôi không muốn nuôi cá nữa, có lẽ tôi vẫn còn quyến luyến với Biga, nên lấy cớ đắt rẻ, vì chưa muốn con cá khác thay thế nó. Tôi lang thang ra chỗ Ếch Phi Châu. A, mấy con ếch này từ Phi Châu sang mà sao nó không đen, da nó có màu kem. Tôi hỏi mua hai con. Anh chàng bán hàng hỏi:
– Bà có hồ nước ấm không? Chúng cần ở trong nước bẩy mươi độ.
– Tôi không có.
– Như thế thì đừng mua.
– Tôi không có hồ ấm, nhưng tôi sẽ cho nước ấm mỗi ngày và tôi sẽ để nó ở trong bếp nơi tôi nấu ăn. Nếu cần, tôi sẽ đặt đèn cho nó cả ngày.
Anh ta nhìn tôi với cặp mắt không mấy thiện cảm, tôi lờ đi, nói:
– Anh lấy cho tôi hai con.
Anh ta miễn cưỡng mang cái bao ni-lon lại vớt hai con ếch to bằng hai con dế dũi cho vào, đưa cho tôi với câu nói:
– Đáng nhẽ bà không có hồ ấm tôi không bán, vì giống này ở Phi Châu chỉ quen nóng thôi.
Tôi thấy anh ta khó chịu nên trả lời nhẹ nhàng.
– Anh đừng lo tôi ở xứ nóng sang đây, tôi cũng phải tập quen với cái lạnh. Hai con ếch này sẽ có ngày chúng bắt tôi cho thêm đá vào nước đấy.
Anh ta hừ nhẹ một tiếng trong họng, đưa bịch cá cho tôi không nói thêm một câu. Tôi lờ đi như không biết, vẫn cám ơn ngọt ngào.
Tôi mang ngay hai anh chàng Phi Châu về. Cái nhà của Biga bây giờ chỉ còn cây thủy trúc nhỏ. Dọn hai chàng này vào không được. Ếch cần có cái sàn rộng hơn. Tôi lại chạy đi mua một cái bình hình chữ nhật, ra vườn tìm ba hòn đá, cần một hòn mỏng, để làm nóc, tôi biết ếch thích leo trèo và thích có hang. Tôi kiếm được một miếng gạch vỡ, rửa sạch tất cả, xếp thành hình cái hang nhỏ trong đáy bình. Đổ nước âm ấm, thả hai con ếch vào, đứng ngắm:
Ao cũ / Con ếchnhẩy vào / Vang tiếng nước xao.
Hai con ếch dọn vào nhà mới không phải ao cũ, nhưng được nghe ngay thơ Basho, chúng thật là may mắn.
Chúng may mắn hay tôi may mắn. Tôi nhớ mùa hè năm ngoái, tôi mua được một cụm bèo Nhật ở một nhà bán cây kiểng Mỹ. Khi nó nở một bông hoa tím tôi hạnh phúc đến bàng hoàng như mang được cả quê hương đến nơi này. Bao nhiêu câu hát về hoa Lục Bình theo nhau chạy về trong trí nhớ. Thế mới biết cái hồn viễn xứ mạnh thật. Khi sống xa quê những vật nhỏ bé, tầm thường nào mang hình ảnh quê nhà đều có tác dụng rất mạnh với mình.
Hai con ếch Phi Châu này không hiểu tại sao da không đen, chắc chúng đã mấy đời lai giống. Tôi nhớ mấy năm về trước tôi mua được một con da đen bóng nó sống với tôi được sáu bẩy tháng mới mất, nó mất cũng chỉ vì tôi vắng nhà mười ngày, không ai săn sóc nó, nếu không chắc nó còn sống lâu hơn. Tôi thích mấy con ếch vì nó làm tôi nhớ đến mấy con ếch nhỏ màu xanh biếc như cánh bèo ở ao quê nhà vào thời thơ ấu. Con ếch đó to và đẹp hơn loại ếch kiểng Phi Châu này nhiều.
Đôi khi tôi tự hỏi, mấy con cá mang nhãn hiệu của nơi xuất xứ thật ra đã bao nhiêu đời được gây giống bên ngoài quê hương gốc của nó. Hai con ếch Phi Châu này chắc chắn từ đời ông sơ, ông cố nó sinh ra ở Phi Châu không phải đời nó, nên nước da mới trắng nhợt thế này.
Tôi nghĩ đến thân phận di dân. Con người cũng vậy thôi, chỉ đời cha, đời ông mới được người cùng quốc gia ở quê nhà gọi là “kiều bào” nhưng đời cháu, đời chắt, họ đánh rơi ngay hai chữ đó trên mỗi bước họ đi. Họ nhận (hay họ chính là) người của quốc gia họ sinh ra và trưởng thành.
Điều đó tự nhiên đến nỗi chẳng ai còn nhớ ra để mà buồn, vì các ông bà cố và cha mẹ, họ hàng xa xưa của họ đã qua đời hết rồi. Đôi khi họ có lúc tìm lại, như tìm một sự kiện để làm một bản văn hay một luận án ra trường. Xong việc đó, mọi việc lại cất vào ngăn lưu trữ, họ lại sống cái đời đang sống. Tôi nhớ hồi mới sang Mỹ, gặp một phụ nữ Á đông ở chỗ làm. Hỏi chị người nước nào, chị thản nhiên nói “người Mỹ”. Chị sinh ra ở Mỹ, trưởng thành ở Mỹ, ông nội và bố chị cũng sinh ra ở Mỹ. Như vậy ông cố chị là người đầu tiên tới đây, đến chị là đời thứ bốn, cho nên chị không nói được tiếng Hoa. Chị nói, cả gia đình tôi, sống theo tập quán của người Mỹ, chúng tôi thưởng thức những ngày lễ hội của Trung Hoa như tất cả những người Mỹ khác mà thôi, không ai quan tâm đến mình phải là người Hoa nữa.
Hồi đó mới sang, còn trẻ, tôi nghe ngạc nhiên lắm, nghĩ thầm trong đầu “Đúng là mất gốc”.
Bây giờ lớn tuổi, cách suy nghĩ cũng khác đi, miền tin vào năm tháng thấy mong manh quá. Thử tưởng tượng năm 2100, tám mươi lăm năm nữa, đứa bé Syrian được sinh ra ở Ý, ở Đức, ở Mỹ, vào năm 2015 lúc đó là một người già 85 tuổi, chắc sẽ nói về Syria như kể truyện cổ tích cho con cháu nghe mà thôi. Và sẽ bắt đầu bằng: Ngày xa xưa gần một thế kỷ, ông cố của ta đã tới đây….
Phải chăng, chúng ta sống trong thời đại của tỵ nạn và tuổi của lưu vong.(**)
Tôi nhìn hai con ếch mang nhãn Phi Châu với màu da vàng nhợt nhạt, nhớ đến con cá Xiêm, bất giác nghĩ đến phận mình, phận của bao nhiêu con người nữa, khác chi như cá, như ếch, như bông hoa lục bình trôi từ sông nước quê nhà tạt vào một xứ sở xa xăm.
Trần Mộng Tú
Tháng 9/16/2015

CÂU CHUYỆN CẬU BÉ ĐI TÌM MẸ KHIẾN CẢ NƯỚC ĐỨC CẢM ĐỘNG

Câu chuyện cậu bé đi tìm mẹ khiến cả nước Đức cảm động

Bé trai Derby hơn 9 tuổi là một cậu bé bị bỏ rơi và lớn lên ở cô nhi viện. Cậu bé mong muốn được tìm thấy mẹ. Tình yêu của Derby đối với người mẹ trong mơ của mình và con đường tìm mẹ đặc biệt của em đã làm cảm động người dân nước Đức.


'Mẹ ơi, con đã tìm mẹ từ rất lâu lắm rồi! Con xin mẹ đừng bỏ con nữa, được không mẹ?”. (Ảnh: Internet)' 
 Con đường tìm mẹ đặc biệt của Derby
Tháng 2/1994, ở phía Bắc nước Đức tuyết trắng phủ dầy đặc, trại trẻ mồ côi Yite Luo nằm bên ven sông Rhine, tĩnh lặng trong gió tuyết. Sáng sớm hôm ấy, nữ tu sĩ Terri, 50 tuổi ra ngoài làm việc. Lúc vừa ra đến cổng, bà láng máng nghe thấy có tiếng trẻ con khóc. Bà liền tìm theo tiếng khóc thì phát hiện một bé trai tóc vàng được đặt trong một bụi cây ở cạnh cổng trại. Nữ tu sĩ này đã đưa cậu bé về trại trẻ nuôi dưỡng và đặt tên cho cậu là Derby.
Bảy năm ở cô nhi viện, cậu bé Derby lớn lên khỏe mạnh và ngoan ngoãn. Cậu bé có tấm lòng lương thiện, nhưng tính cách lại có chút u buồn. Một ngày thời tiết nắng ráo, các nữ tu sĩ đã dẫn bọn trẻ đi qua một rừng cây để đến một đồng cỏ xanh ở ven bờ sông dạo chơi. Những người ở trong thị trấn gần rừng cây đều chỉ vào những đứa trẻ này và nói: “Những đứa trẻ này đều là bị cha mẹ bỏ rơi, nếu con mà không nghe lời, mẹ cũng sẽ đem bỏ con vào cô nhi viện đấy!”
Nghe thấy những lời nói này, Derby cảm thấy vô cùng đau lòng. Cậu bé không nhịn được liền hỏi nữ tu sĩ:“Mẹ ơi! Tại sao cha mẹ con lại không cần con? Có phải là họ ghét con không?” Giọng nói của cậu bé tràn đầy bi thương không hề giống với lời nói của những đứa trẻ khác cùng độ tuổi.
Nữ tu sĩ nghe xong giật mình hỏi Derby: “Tại sao con lại nghĩ như vậy?”
Derby trả lời: “Tại vì con nghe thấy mọi người đều nói như vậy, chúng con đều là những đứa trẻ bị cha mẹ bỏ rơi!”
Nữ tu sĩ an ủi cậu bé: “Mặc dù mẹ chưa từng gặp mặt mẹ của con, nhưng mẹ tin rằng nhất định mẹ của con rất yêu thương con. Trên đời này không có người mẹ nào là không yêu thương con của mình cả. Năm đó mẹ của con để con lại, chắc chắn là vì một lý do bất đắc dĩ nào đó thôi”.
Derby nghe xong lặng im không nói lời nào, nhưng từ đó trở đi cậu bé thay đổi rất nhiều. Cậu thường xuyên đứng bên cửa sổ của cô nhi viện nhìn ra dòng sông Rhine. Cậu hy vọng những dòng nước đang chảy trên sông Rhine có thể đem tình cảm của cậu đến với mẹ.
tìm mẹ, nước Đức, derby, cậu bé mồ côi, cảm động, 10 việc tốt,
Derby thường xuyên đứng bên cửa sổ của cô nhi viện nhìn ra dòng sông Rhine. Ánh mắt của em không khỏi mong mỏi, khát khao tìm thấy mẹ. (Ảnh: Internet)
Vào “ngày của mẹ” năm 2003, không khí ấm áp của ngày lễ lại một lần nữa dấy lên khát vọng mãnh liệt được gặp mẹ của Derby. Ngày hôm đó, các kênh truyền hình đều đưa tin về các hoạt động ăn mừng, đăng tải những hình ảnh về tình mẹ con. Có một cậu bé 6 tuổi, mồ hôi chảy đầm đìa trên người đang giúp mẹ cắt cỏ. Mẹ của cậu bé nhìn cậu bé mà cảm động rơi nước mắt. Derby khi xem tới hình ảnh này đã nói với nữ tu sĩ: “Con cũng muốn được làm việc giúp mẹ! Mẹ ơi! Mẹ có biết cha mẹ của con đang ở đâu không ạ?”
Nữ tu sĩ trầm tư, không nói được lời nào, bởi vì suốt mấy năm qua bà không hề nhận được tin tức gì của cha mẹ cậu bé cả. Đột nhiên, Derby chạy ra ngoài đường, cậu cứ chạy, trên đường có rất nhiều người mẹ nhưng lại không có ai là mẹ của cậu bé cả. Derby đau khổ và gào khóc.
Mấy tháng sau, khi Derby được 9 tuổi, cậu bé rời khỏi cô nhi viện để đến học tập ở một ngôi trường gần đó. Một lần lên lớp, thầy giáo kể cho học sinh nghe một câu chuyện: “Thời xưa, có một vị hoàng đế rất yêu thích chơi cờ vây, vì vậy ông liền quyết định ban thưởng cho người phát minh ra trò chơi này. Kết quả, người phát minh này lại mong muốn ban thưởng cho anh ta mấy hạt gạo. Tại ô thứ nhất trên bàn cờ đặt một hạt gạo, ô thứ hai đặt hai hạt gạo, tại ô thứ 3 số hạt gạo gấp lên 4 lần…Theo đó suy ra, đến khi bỏ đầy bàn cờ thì số hạt gạo đã là 18 triệu tỷ hạt”.
Cậu chuyện này làm cho hai con mắt của Derby lập tức sáng lên. Cậu nghĩ nếu như cậu giúp một người, sau đó yêu cầu người đó giúp 10 người khác…Với cách này, Derby hy vọng một ngày nào đó biết đâu người được yêu cầu trợ giúp lại là mẹ cậu. Ý nghĩ này đã khiến Derby vui mừng khôn tả. Từ đó về sau, mỗi lần cậu làm một việc tốt giúp một người nào đó, lúc người đó cảm ơn cậu, cậu đều nói: “Xin cô (chú…) hãy giúp đỡ 10 người khác ạ! Đó là cách cảm ơn lớn nhất đối với cháu!”. Những người này sau khi nghe xong, đều vô cùng cảm kích trước tấm lòng lương thiện của cậu bé. Tất cả họ đều thực hiện lời hứa của mình, mỗi khi họ giúp ai đó họ lại đề nghị người kia giúp đỡ 10 người khác. Cứ như vậy, toàn bộ người dân ở thành phố đó đều âm thầm thực hiện lời hứa của mình.
Sức mạnh của “10 việc tốt”
Derby không thể ngờ mình lại có thể giúp đỡ ông Rick, một người dẫn chương trình nổi tiếng của Đức.
Rick là một người dẫn chương trình nổi tiếng của Đức. Mặc dù ông đã 50 tuổi nhưng với ngôn ngữ hài hước hóm hỉnh của mình, ông vẫn thu hút sự yêu mến của khán giả. Các chương trình của ông gần như đều vạch trần hết những bí mật của những người nổi tiếng. Tuy nhiên, có lẽ là do áp lực từ hãng truyền hình và sự cạnh tranh trong công việc, hơn nữa phải chứng kiến quá nhiều mảng tối của xã hội nên vào năm 2003, ông mắc bệnh trầm cảm và không thể tiếp tục được công việc.
Tháng 10/2003, ông đã xin đài truyền hình cho ông được nghỉ dưỡng một năm. Ông hy vọng trong thời gian nghỉ ngơi, ông có thể thả long để sức khỏe được tốt hơn lên. Một thời gian ngắn sau, ông Rick đã tới thành phố mà Derby đang sinh sống để tham quan. Ông đã bị vẻ đẹp của dòng sông Rhine thu hút. Một lần khi trời chạng vạng tối, đang đi trên bờ sông dạo chơi thì bệnh tim của ông đột nhiên tái phát. Ông chưa kịp lấy thuốc từ trong túi ra uống thì đã ngã ngất xỉu trên mặt đất. Cậu bé Derby lúc ấy đang câu cá trên bờ sông phát hiện ra ông bị ngất xỉu nên đã gọi điện cho xe bệnh viện đến đưa ông đi cấp cứu.
Nhờ được cấp cứu kịp thời, ông Rick đã qua khỏi, ông nắm lấy đôi tay của Derby và nói: “Cháu bé, ông phải làm sao để cảm ơn cháu đây? Nếu như cháu cần tiền, ông có thể cho cháu rất nhiều tiền!”.
Derby nghe xong liền lắc đầu nói: “Nếu như ông có thể giúp đỡ 10 người khác khi họ cần sự giúp đỡ, như vậy chính là ông đã cảm ơn cháu rồi ạ!”.
Ông Rick cảm thấy khó hiểu liền hỏi cậu bé: “Cháu cái gì cũng đều không cần sao?”. Derby cười và lắc đầu.
Ông Rick liền bị cậu bé kỳ lạ này thu hút. Ông đã để lại cách liên lạc cho Derby và đưa cậu bé trở về trường. Trước khi ông Rick rời đi, Derby lại dặn dò ông một lần nữa: “Cháu xin ông nhất định hãy làm đủ “10 việc tốt” ạ!” Ông Rick nhìn qua đôi mắt đang rực sáng của cậu bé, trong lòng ông cảm thấy ấm áp thế là ông nghiêm túc gật đầu.
Từ đó về sau, ông Rick cảm thấy sống vui vẻ hơn và chăm chú giúp đỡ 10 người khác. Mỗi lần giúp đỡ được một người, trong lòng ông lại cảm thấy vô cùng hạnh phúc. Nhất là những lúc họ nói lời “cảm ơn” với ông, ông cảm thấy bản thân mình có giá trị hơn rất nhiều.
Chưa đến nửa kỳ nghỉ phép, ông Rick đã trở lại đài truyền hình làm việc. Khi ông quay lại làm việc, tất cả mọi người đều ngạc nhiên vì sự thay đổi chóng mặt của ông. Ông trở nên vui tươi, lạc quan và hòa đồng với mọi người hơn.
Ngày 01/12/2003, ông Rick lần đầu tiên lên sóng truyền hình sau kỳ nghỉ dài. Tại đây ông đã nói với khán giả: “Trước đây, tôi đã nói rất nhiều những câu chuyện của người khác, hôm nay tôi sẽ kể câu chuyện của chính mình”. Ông xúc động kể về sức mạnh của “10 việc tốt” trong vòng một tiếng đồng hồ. Cuối cùng, ông nói: “Có lẽ, không ai tin đây là chuyện thật, nhưng chuyện này đã tiếp thêm rất nhiều động lực sống cho tôi. Xin các bạn cũng hãy giúp đỡ 10 người khác khi họ cần giúp, tôi tin rằng bạn cũng sẽ cảm nhận được loại cảm giác kỳ diệu này!”
Thông qua truyền hình, chương trình của ông Rick được phát sóng trên khắp nước Đức. Mọi người đều rất xúc động về câu chuyện này. Đã có rất nhiều người gọi điện cho ông Rick nói rằng họ sẵn lòng làm “10 việc tốt” này. Thậm chí còn rất nhiều khán giả yêu cầu được nghe Derby nói chuyện trên truyền hình bởi vì họ muốn gặp cậu bé lương thiện này.
Tháng 1/2004, Derby đã đến đài truyền hình chia sẻ về câu chuyện của mình. Tại hiện trường, có người đã hỏi cậu: “Tại sao cậu lại có suy nghĩ như vậy?”. Derby cảm thấy do dự, cậu cắn môi đứng lặng một lúc, rồi mới cất tiếng kể rõ chuyện đời mình. Rất nhiều người đã vô cùng xúc động và bật khóc trước tình yêu vô bờ bến của cậu bé dành cho mẹ mình.
Ông Rick đã ôm chặt lấy thân thể gầy yếu của Derby và nói: “Mẹ của cháu nhất định yêu cháu vô cùng, cháu nhất định sẽ tìm được mẹ!”


'Mẹ ơi, con đã tìm mẹ từ rất lâu lắm rồi! Con xin mẹ đừng bỏ con nữa, được không mẹ?”. (Ảnh: Internet)' Tình yêu của hàng ngàn người mẹ
Sau sự tình ấy, toàn bộ người dân biết chuyện này đã đề ra chiến dịch “10 việc tốt”. Trước đây, mọi người đều lạnh lùng thì giờ đây lại đối xử với nhau rất có tình. Mọi người đều mong rằng người mà mình đang giúp chính là mẹ của cậu bé Derby kia.
Derby đã trở nên rất nổi tiếng và đài truyền hình cũng giúp cậu tìm mẹ, nhưng mẹ của Derby mãi vẫn không thấy xuất hiện…
Tháng 2/2004, một sự việc bất hạnh và đau lòng đã xảy ra với Derby. Nơi Derby sinh sống là một khu phố nghèo. Sau khi Derby nổi tiếng, các tay xã hội đen nghĩ rằng cậu bé có nhiều tiền. Đêm ngày 16/02/2004, trên đường trở về trường học, Derby đã bị một nhóm lưu manh vây quanh, nhưng bọn họ không tìm thấy tiền trên người cậu bé, nên đã đâm trọng thương cậu bé.
Cậu bé Derby bị đâm thủng bụng và gan, cậu nằm trên vũng máu mãi đến hai tiếng đồng hồ sau mới được cảnh sát tuần tra phát hiện. Họ đưa cậu bé vào bệnh viện cấp cứu. Tại bệnh viện, trong lúc hôn mê, Derby một mực gọi “Mẹ! Mẹ! Mẹ!…” mãi không thôi.
Đài truyền hình tiếp sóng trực tiếp tình trạng của Derby. Tất cả mọi người đều cầu nguyện cho cậu. Mấy chục sinh viên đến quảng trường Alexanderplatz, nắm tay nhau thành một vòng tròn và kêu gọi: “Mẹ! Mẹ!…” Những tiếng gọi này làm cảm động những người qua đường, họ liền gia nhập vào nhóm đứng xếp thành hình trái tim. Số người tham gia càng lúc càng đông lên, trái tim cũng càng lúc càng lớn hơn.
Điều cảm động hơn nữa là có hàng trăm người mẹ đã gọi điện đến đài truyền hình xin được giả làm mẹ của Derby. Cô Rita, một giáo sư tại trường đại học Munich đã khóc nức nở và nói: “Derby là một đứa trẻ tốt như vậy, được giả làm mẹ của cậu bé, tôi cảm thấy vô cùng tự hào”. Một phụ nữ khác 35 tuổi gọi điện đến nói: “Tôi từ nhỏ đã không có mẹ. Tôi cũng vô cùng khát khao được gặp mẹ. Tôi có thể hiểu được tâm tình của Derby”.
Có hàng trăm người mẹ đã gọi điện đến để xin được làm mẹ của Derby, nhưng mẹ của Derby thì chỉ có một. Cho nên, đài truyền hình đã thảo luận và chọn cô Judy làm mẹ của Derby. Bởi vì cô ấy sống cùng thành phố với cậu bé, hơn nữa giọng nói của cô ấy cũng giống với giọng của cậu bé, như vậy sẽ càng có cảm giác thân thiết hơn.
Sáng sớm ngày 17/02/2004, sau một thời gian dài bị hôn mê, cậu bé Derby đã mở mắt. Cô Judy đã ôm một bó hoa loa kèn đẹp xuất hiện ở đầu giường của Derby. Cô nắm lấy bàn tay nhỏ bé của Derby và nói: “Con trai Derby yêu quý! Mẹ chính là mẹ của con đây!”. Derby dường như nhìn thấy ánh mặt trời, đôi mắt cậu đột nhiên sáng rực lên, cậu đã rất ngạc nhiên và hỏi:“Mẹ thực sự là mẹ của con sao?”. Cô Judy dùng hết sức ngậm lấy nước mắt và gật gật đầu. Tất cả mọi người có mặt ở đây cũng mỉm cười nhìn Derby và gật đầu. Hai dòng nước mắt nóng chảy ra từ đôi mắt của Derby: “Mẹ ơi, con đã tìm mẹ từ rất lâu lắm rồi! Con xin mẹ đừng bỏ con nữa, được không mẹ?”


Cô Judy gật đầu và nghẹn ngào nói: “Con trai yêu quý của mẹ, con hãy yên tâm đi, mẹ sẽ không bao giờ rời xa con nữa…!”. Trên khuôn mặt tái nhợt của Derby nở một nụ cười. Cậu còn muốn nói nhiều hơn nữa nhưng đã không còn sức lực nữa rồi…
Đây là ngày cuối cùng của Derby ở trên cõi đời này, cậu bé luôn nắm thật chặt bàn tay của mẹ mà không buông ra, cậu cũng không muốn nhắm mắt lại vì muốn được nhìn thấy mẹ nhiều hơn… Tất cả mọi người đều òa khóc, cảm thấy như trái tim mình đang vỡ tan ra.
Hai giờ sáng ngày 18/02/2004, Derby đã nhắm mắt lại, vĩnh viên rời xa thế gian nhưng đôi bàn tay của cậu bé vẫn còn nắm chặt bàn tay của mẹ.
Theo Daikynguyenvn / NTDTV

Saturday, December 19, 2015

HỮU TÂM HỘI NGỘ

Để nhớ buổi họp mặt bạn cũ VH
ĐHSP Saigon: Mai Canada, Như Mai, Mai Cường, Hồng Nhung& Hiếu ở nhà Hồng Nhung & Hiếu cuối tuần vừa qua : 


HỮU TÂM HỘI NGỘ
Duyên may gặp gỡ giữa rừng mai,
Qua bốn mươi năm, một giấc dài.
Bạn cũ trường xưa, tình cố xứ,
Nước non lưu luyến, nỗi quan hoài.
Nhỏ to bạn gái niềm tâm sự,
Tri kỷ hai chàng hết mấy chai.
Bạn cũ quí hồ như rượu cũ,
Nay chờ mai hẹn chẳng đơn sai.


Tháng Chín
2015
cnm


 



 


 

HẠNH PHÚC KHÔNG CHỈ LÀ NỤ CƯỜI

HẠNH PHÚC KHÔNG CHỈ LÀ NỤ CƯỜI


Hạnh phúc không chỉ là nụ cười, mà còn là giọt nước mắt trên bờ vai tin cậy.
Hồi nhỏ có lần mẹ hỏi tôi: “Con có biết phần nào của cơ thể con người là quan trọng nhất?”. Tôi ngước nhìn mẹ, mẹ đã một mình tần tảo nuôi nấng chị em tôi khi cha qua đời. Tôi chợt nghĩ đôi bàn tay là cần thiết nhất đối với con người, bởi mẹ đã làm tất cả mọi việc chỉ với đôi bàn tay ấy. Mẹ trầm ngâm:
- Có thể con có lý nhưng đó chưa phải câu trả lời đúng nhất.
Trong một lần đi thăm trường khiếm thị, tôi cho rằng việc nhìn thấy được là điều quan trọng nhất, vì thế câu trả lời của tôi là đôi mắt. Mẹ nhìn tôi nói:
- Vẫn chưa đúng con ạ.
Mãi đến một hôm, khi tôi cùng mẹ đi dự đám tang của một bác hàng xóm bị tai nạn. Những người con khóc ngất trước linh cửu người cha đã bất ngờ vĩnh viễn ra đi. Mọi người chung quanh xúc động cùng dìu đỡ và chia sẻ với những người con trong cơn đau mất mát.

Trên đường về, mẹ chợt khẽ nói:
- Con ạ, đôi vai chính là phần quan trọng nhất của con người.
- Vì đó là nơi nâng cái đầu phải không mẹ?
- KhÔng phải thế, bởi đó là nơi con người có thể tựa vào để khóc mỗi khi buồn, bị tổn thương hay gặp bất hạnh trong cuộc sống. Ai cũng cần có một “bờ vai” để nương tựa trong tinh thần. Mong sao con có thể tìm được cho mình những bờ vai để cùng sẻ chia sau này. Và con cũng sẽ là một bờ vai cho ai đó tựa vào những khi cần thiết con ạ.

Sau này lớn lên, tôi mới hiểu hết ý nghĩa của câu nói đó, biết bao lần tôi đã cần đến một bờ vai như thế. Và cuộc sống sẽ hạnh phúc biết bao nếu chúng ta biết cảm thông, chia sẻ với nỗi đau của ai đó bằng tình cảm chân thật của mình.
sưu tầm trên net

NỖI NHỚ TRONG TIẾNG RAO ĐÊM

Lò mò đánh tên bạn mình, đọc được bài viết của tác giả Bảo Lâm viết về cuốn tạp bút " TIếng rao đêm" mà bạn mình vừa tặng cho mình và các bạn (gửi từ Việt Nam). 
NỖI NHỚ TRONG TIẾNG RAO ĐÊM

“Tiếng rao đêm” là cuốn tạp bút mới của tác giả Nguyễn Dzoãn Cẩm Vân. Những hồi ức và cảm nhận về ẩm thực Việt đã được bà trải lòng qua từng trang sách.
Nổi lên xuyên suốt trong tập tạp bút này chính là nỗi nhớ. Chính nỗi nhớ sâu thẳm chất đầy trong tâm hồn đến một lúc không kìm nén được đã bật ra thành lời “Đúng là Hà Nội đã đọng lại trong tôi nhiều nỗi nhớ vô kể và một trong những nỗi nhớ ấy là các món ăn...”. Nhớ về các món ăn mang phong vị Bắc, tác giả đã nhắc đến cái thú của những lúc được nhâm nhi hạt lạc rang húng lìu bên cạnh Hồ Gươm, hay vị ngon của miếng cơm nắm nhỏ nhẹ chấm với muối vừng.
Cũng trong nỗi nhớ, bà dẫn người đọc thưởng thức từ bún đậu, cốm, bún ốc, mực rối... ở Hà Nội, đến món cháo có tên khá lạ “cháo vạt giường cá lóc” ở Quảng Trị rồi đến Hội An, Đà Nẵng với món cơm gà, mì Quảng, cao lầu... hay tới Bình Thuận ăn vịt thả dầm, bánh căn, lên Tây Nguyên ăn món lá é cá trích, xuống miền Tây Nam bộ cảm nhận món lía, ốc gạo... Và nhiều món khác cũng được kể đến như khô cá lóc, cá tra, khô mực, khô bò, khô nai... Tác giả cũng hồi tưởng về ẩm thực cùng cách sống của người Sài Gòn qua “Món ăn Sài Gòn xưa”, “Tiếng rao đêm”, “Tào phớ... không?”, “Trà đá Sài Gòn”, “Cà phê góc phố”, “Chè: món ăn vặt gợi nhớ”...
Các bài viết trong tập sách là cả một bầu trời ẩm thực Việt. Có những món ăn không cao sang nhưng làm mê hoặc lòng người. Tình yêu dành cho ẩm thực xứ sở đã khiến bà ghi lại những đoản văn như một kỷ niệm! Đọc sách của bà, người đọc nhận ra dẫu cuộc sống có thay đổi nhưng vẫn cần trân quý và nâng niu giá trị Việt. Không khỏi bồi hồi xao xuyến về nếp nhà hồn hậu, dung dị của người Việt trong “Phở Bưng Cầu”, “Khay mứt ngày tết của gia đình tôi”, “Hoài niệm về mâm cỗ tết xưa”... Và, thật xúc động trước tình cảm của bà dành cho những người kiếm sống giữa đêm khuya: “... Ngày cứ hết, đêm cứ rơi xuống chậm rãi và trôi đi theo nhịp thời gian, những tiếng rao vẫn hằng đêm rong ruổi trên mọi nẻo đường, tiếng rao của những mảnh đời cơ cực, lẫn chìm vào đêm, lẫn chìm vào bóng đèn đường vàng vọt... Dù cơ cực, dù chỉ có vào đêm, tôi vẫn thấy trân quý những mảnh đời vất vả ấy, vì dù sao họ cũng vẫn đang sống rất lương thiện, để nuôi gia đình, cho con cái nên người và nuôi chính bản thân mình. Họ là những đốm sáng trong bóng đêm của thời gian”.
Với 45 bài viết nhỏ trong hai chương, dường như tác giả đã “giải tỏa” được một phần “ước mơ là làm một cuộc hành trình trải dài từ Bắc vào Nam, và trong hành trình ấy, tôi được thấy, được nghe để rồi ghi lại những điều mình nghe và thấy bằng tất cả cảm xúc của trái tim mình...”. Vâng, chỉ một phần bởi theo bà “cho đến nay ước mơ ấy vẫn chưa thành hiện thực, nó chỉ dừng lại ở một vài nơi tôi đã được đi qua và dừng lại đôi ba ngày...”.
“Tiếng rao đêm” chính là tiếng lòng, nỗi nhớ của một nhà nữ công gia chánh dành cho món ăn, thức uống cùng nếp nhà của người dân Việt bình thường, trọng nghĩa khí!
(*) Đọc “Tiếng rao đêm”, tác giả Nguyễn Dzoãn Cẩm Vân, NXB Hồng Đức và Công ty văn hóa Việt Thư ấn hành, 2015.
BẢO LÂM
                                     
PHƯƠNG LAN hb
09/24/2015

CÀ RỐT, TRỨNG VÀ CÀ PHÊ

CÀ RỐT, TRỨNG VÀ CÀ PHÊ
Cô cháu gái tìm đến bà ngoại và thổ lộ với bà những tâm sự trong lòng mình. Cuộc sống dường như đang quay lưng lại với cô – người chồng cô tin tưởng bấy lâu đã bất ngờ phụ bạc khiến cô hoàn toàn tuyệt vọng. Không biết phải làm thế nào để đối mặt với sự thật phũ phàng này, cô chỉ muốn buông xuôi và từ bỏ tất cả…
Bà ngoại không trả lời mà chỉ dẫn cô vào bếp. Rồi bà đổ nước vào ba chiếc bình và đặt lên ngọn lửa. Chẳng mấy chốc, nước trong các bình sôi lên. Bà cho vào chiếc bình thứ nhất một củ cà rốt, chiếc bình thứ hai một quả trứng, và chiếc bình thứ ba là một nhúm hạt cà phê. Bà kiên nhẫn chờ nước sôi thêm lần nữa, trong khi vẫn không nói lời nào.
                              
Một lát sau, bà tắt lửa rồi vớ! t cà rốt, trứng, và các hạt cà phê ra ngoài.
Quay sang cô cháu gái, bà hỏi: “Nói cho bà biết, cháu đang thấy những gì?”
“Cà rốt, trứng, và cà phê bà ạ”, cô trả lời.
Bà đưa cô đến gần hơn và bảo cô hãy nếm thử củ cà rốt. Cô làm theo và nói rằng cà rốt rất mềm. Rồi đến lượt trứng, cô bóc vỏ và nhìn thấy bên trong lớp vỏ cứng, quả trứng đã cô đặc lại.
Cuối cùng, bà bảo cô thưởng thức các hạt cà phê. Bà chỉ mỉm cười khi cô cảm nhận hương vị nồng nàn của nó.
                           
Sau đó, cô hỏi bà: “Vậy những điều này nghĩa là gì hả bà?”
Bà ngoại nhẹ nhàng vuốt tóc cháu yêu và từ tốn nói: “Cháu thấy đó, cả cà rốt, trứng và cà phê đều đối mặt với cùng một nghịch cảnh như nhau, đó là nước sôi. Nhưng mỗi thứ trong số chúng lại có phản ứng hoàn toàn khác nhau. Cà rốt vốn cứng cỏi và mạnh mẽ, nhưng khi gặp nước sôi, nó lại trở nên mềm yếu. Trứng giòn và dễ vỡ, lớp vỏ bên ngoài quá mỏng manh, còn bên trong lại yếu mềm. Nhưng sau một thời gian ngâm trong nước sôi, bên trong quả trứng trở nên vững chắc”.
“Còn những hạt cà phê này lại phản ứng theo một cách khác, rất độc đáo
                          
Sau khi chịu thử thách trong nước sôi, nó đã làm nước phải biến đổi”.

“Vậy cháu muốn làm gì?” bà trìu mến hỏi cô cháu gái. “Khi khó khăn ập đến, cháu sẽ là củ cà rốt, quả trứng, hay hạt cà phê?”
Là cà rốt? Rất mạnh mẽ, vững chắc, nhưng lại dễ dàng bị khuất phục trước khó khăn hay nghịch cảnh…
Là quả trứng? Một trái tim mong manh dễ thương tổn, nhưng luôn biết học hỏi từ khó khăn. Tôi sẽ không bao giờ lùi bước trước những thăng trầm của cuộc sống, bởi từ sâu thẳm bên trong, khó khăn đang giúp tôi trở nên cứng cỏi và kiên cường hơn.
Hay là hạt cà phê? Thay vì để hoàn cảnh làm tôi thay đổi, tôi sẽ cải biến chính nghịch cảnh ấy. Cà phê tỏa hương thơm để dòng nước không còn là ‘nỗi đau’, mà mang một hương vị mới rất nồng nàn và đậm đà. Nếu bạn cũng giống như những hạt cà phê ấy, thì mỗi khi cuộc sống trở nên tồi tệ, bạn không chỉ trở nên mạnh mẽ hơn, mà còn biến đổi tất cả những gì ở quanh bạn. Khi thế giới hỗn độn, mọi thứ chao đảo, khó khăn lại chồng chất khó khăn, liệu bạn vẫn có thể tự tin đưa mình lên một bước tiến mới?
Vậy, bạn sẽ là cà rốt, trứng, hay cà phê?
Ai đó từng nói… người hạnh phúc nhất không phải là người có trong tay những điều tốt đẹp, mà là người có thể biến mọi thứ trong tay họ trở thành những điều tốt đẹp. Hiện tại và tương lai hoàn toàn tùy thuộc ở bạn!
Chúc bạn sẽ có đủ hạnh phúc để biết luôn ngọt ngào, có đủ khó khăn để biết mình mạnh mẽ, có đủ nỗi đau để biết cách yêu thương, và có đủ hy vọng để hiểu rằng phía trước luôn luôn là một chân trời tươi sáng.
Khi bạn sinh ra, chỉ riêng bạn là khóc còn những người xung quanh bạn đều mỉm cười. Vì vậy, hãy sống hết mình vì cuộc đời này, để đến giây phút cuối cùng, bạn là người duy nhất mỉm cười trong khi những người ở lại đều khóc trong thương tiếc.
Một người bạn chuyển trên trang web
Phương Lan
09/29/2015
9:29 PM