Thursday, June 12, 2025

HÀNH TRÌNH 50 NĂM LY HƯƠNG VIỄN XỨ


https://www.lienlac.net/FlippingBook/Hanh%20Trinh%20Vien%20Xu/mobile/index.html?fbclid=IwY2xjawK30QBleHRuA2FlbQIxMQBicmlkETFXMmhqbXl5RjNrcXlMVzQzAR5VVoCZGvO7kZIoLyKcJOQTi_sdPlSymmueklMCuQcCLE856ySa9p6obgtmGA_aem_oV4gJiPV4Dn2qG1DdlUa7Q


(Xin vui lòng click vào link e-book để đọc và nghe 🎶Thanks)
⚜️⚜️⚜️
TUYỂN TẬP 50 NĂM
Hành trình viễn xứ
Tuyển tập này được soạn và ấn hành nhân kỷ niệm 50 năm ly hương viễn xứ (1975-2025) phát hành tại trại họp bạn Hướng Đạo Trưởng Niên (HĐTrN) Bách Hợp VI được tổ chức vào đầu tháng 6/2025 tại Portland Oregon. Nơi đã từng tổ chức trại Bách Hợp HĐTrN đầu tiên 10 năm trước đây.
30/4/1975. Lịch sử đã làm cuộc chia ly vô cùng lớn với hàng triệu người Việt phải đành đoạn rứt ruột dắt díu nhau, rời bỏ quê hương đất nước trong cùng cực hoang mang, hãi hùng và tuyệt vọng. Bỏ lại sau lưng một quê hương yêu dấu mịt mờ lửa khói để trôi giạt nơi quê người chưa biết về đâu.
Lại nhớ hai mươi năm trước đó 20/7/1954, gần triệu người đã tự nguyện làm cuộc ly hương, lìa xa quê Bắc vào miền Nam tìm tự do. Cuộc di cư vĩ đại của dân ta:
“Một ngày mùa chinh chiến ấy,
Chim đã xa bầy mịt mờ bên trời bay”
Hành trình lìa bỏ quê hương di cư vào Nam này tuy vất vả, đành đoạn nhưng không đến độ bi thương vì vẫn còn nuôi hy vọng làm lại cuộc đời trên quê hương mới sáng dội miền Nam. Ngày ấy, đồng bào phải ly hương nhưng vẫn còn cùng ở trong một đất nước hình chữ S.
Và chắc chắn rất nhiều người di cư 1954 và cả đồng bào miền Nam đã không thể ngờ được rằng họ sẽ phải xa quê hương thêm một lần nữa trong đời từ ngày định mệnh 30/4/1975. Hơn thế nữa, rất nhiều thập niên sau đó, hàng-hàng-lớp-lớp người Việt Nam vẫn tiếp tục liều chết, bỏ nước ra đi.
Vòi või nhìn về “cố lý xa xôi” bên kia bờ đại dương, đã cách xa nửa vòng trái đất. Đây mới chính là cuộc viễn xứ ly hương vô cùng đau đớn. 50 năm ly hương đã trôi qua, như một giấc mộng dài của một đời người đã phải chọn lựa giữa: Tự Do hay là Chết. “50 năm, một khoảng thời gian tuy ngắn cho lịch sử của một dân tộc, nhưng lại dài cho một đời người. 50 năm trước, toàn lãnh thổ Việt Nam rơi vào sự thống trị của những người Cộng Sản. Và kể từ đó, hàng triệu người dân Việt Nam đã bỏ xứ ra đi, bắt đầu là làn sóng vượt biên gian nan, hiểm nghèo của những thuyền nhân, bộ nhân làm rúng động lương tâm thế giới vào những thập niên 70, 80, và 90. Những người Tị Nạn Việt Nam năm xưa và thân nhân của họ đã xây dựng nên những Cộng Đồng Người Việt Tự Do lớn mạnh trên khắp thế giới. Cái quá khứ Tị Nạn đó bây giờ đã bị lãng quên, hay vẫn còn hằn sâu trong tâm thức của họ? Thế hệ thứ hai, thứ ba, con cháu của những người Tị Nạn gốc Việt, đã có những đóng góp ngày càng đáng kể vào xã hội nơi họ đang sống.
Bao nhiêu người trong thế hệ hiện tại và tương lai hiểu nguyên do vì sao họ được sống trong một xã hội tự do nhân bản, và có bao nhiêu người trong số đó thật sự trân quý cái giá mà cha ông họ đã phải trả?!” (Thuyền Nhân: hành trình 50 năm” - phim tài liệu dài 90 phút do đạo diễn Thanh Tâm thực hiện).
Tuyển tập Hành trình 50 năm viễn xứ trong lòng người hướng đạo ly hương chỉ là một cố gắng góp nhặt những mảnh tâm thức viễn xứ lắng đọng qua những vần thơ ly hương của những người từng là hướng đạo sinh, đã có mặt, trong và sau cuộc chiến huynh đệ tương tàn. Là tiếng lòng của những người “xa quê hương” dấn thân vào hành trình 50 năm tha hương viễn xứ của người tị nạn Việt Nam. Có nhiều người trong số đó đã không thể trở về quê hương sau nửa thế kỷ dài viễn xứ.
Cuộc ly hương ấy không chỉ là 50 năm mà còn hơn thế nữa từ ngày đất nước chia đôi sơn hà, mà mỗi người tị nạn là một thuyền nhân trên con “thuyền viễn xứ” mà “niềm thương nhớ ngày nào hướng về "cố lý xa xôi" sẽ được nhân lên nhiều cấp số để trở thành nỗi hoài niệm không nguôi của những tâm hồn lưu lạc "gửi về phương ấy mịt mờ quê hương".
Ngày tháng ly hương cứ dài mãi, dài mãi.
Năm năm, mười năm, mười lăm năm … rồi năm mươi năm.
“Ngày về quê xa lắc lê thê…” Nửa thế kỷ tha phương viễn xứ “nỗi quan hoài mang mể biết bao”. Đã có biết bao người trong cuộc viễn xứ ấy đã ôm sầu ly hương mà nằm trong lòng đất lạnh quê người. Có biết bao người không chờ được đành qui cố hương làm thân Từ Thứ qui Tào.
Tha phương viễn xứ hoàn cảnh nào cũng bi thiết sầu vương.
⚜️
Mỗi bài thơ trong tuyển tập này là một tâm tình người viễn xứ hoang mang, thê thiết từ buổi đầu bỡ ngỡ phải xa nơi chôn nhau cắt rốn, như lá xa cành chim xa cội, như nước xa nguồn. Ra đi chẳng hẹn một ngày mai nhưng vẫn hoài mong có được một lần trở về quê cũ.
Người thơ trong tuyển tập phần lớn là những người từng sinh hoạt trong phong trào Hướng đạo, từng là quân, dân, cán, chính phục vụ Miền Nam tự do một thời. Những lời thơ là tiếng vỗ cánh của đàn chim lưu lạc muôn phương khắc khoải vọng về quê cũ.
Năm mươi năm trôi qua các tác giả trong tuyển tập nhỏ này,
người mất, người còn …. Tiếng thơ của quý vị vẫn rung cảm trong lòng người đọc đồng tâm trạng hoài thương cố quốc.
Trân trọng giới thiệu tuyển tập này đến quý trưởng niên và thân hữu tại trại Bách Hợp VI Camp Mountaindale Portland Oregon, như một món quà nhỏ nhân kỷ niệm 50 năm viễn xứ trong lòng người hướng đạo ly hương.

mnc
6/2025


Tuesday, March 18, 2025

T U Y Ế T X U Â N

 

Tuyết đã rơi đêm qua
Tuyết tháng giêng năm mới
Rơi trắng trước sân nhà
Mỏng thôi như cũng đủ
Mang lạnh từ phương xa
Về ngang qua thành phố
Rơi trong đêm nhạt nhòa
Tuyết như người bạn cũ
Lâu lắm mới ghé qua
Một trời đầy hoa tuyết
Cùng mùa Xuân nở hoa

mnc

Houston 21/1/2025

Monday, March 17, 2025

50 NĂM VÀ NHỮNG TỜ LỊCH MỚI


Trần Mộng Tú
50 năm như một giấc ngủ dài, thức dậy vẫn còn lãng đãng giữa chiêm bao.
Từ những cái Tết đầu tiên còn độc thân, còn cha mẹ, anh em chưa mất người nào. Cả gia đình ngơ ngác đất lạ, quê người … nén nhang thắp lên cành hoa ngoài vườn cắt vào, cùng với bao nhiêu xúc động.
Đốm nhang cháy đỏ như quầng mắt
Khói có bay về tận cố hương
Vườn người tôi chiết cành xuân thắm
Nhớ quê vết cắt trượt xuống hồn. (tmt)
Như bao nhiêu người Việt lưu vong khác, chúng tôi làm lại cuộc đời mình, và bằng một cách nào đó, chúng tôi chấp nhận thích nghi với đời sống như hoa cỏ thích nghi với khí hậu, như cây quýt ở Giang Nam bên Tàu, mang sang vùng khác vẫn ra hoa kết trái tuy vị ngọt đã khác đi, nhưng cây vẫn sống và sinh hoa, kết quả hàng năm.
Thời gian đã một phần nào chữa lành những vết thương và giúp những vết sẹo lên da non, mờ dần. Trong mấy chục năm làm người di tản, chúng ta, chắc ai cũng hơn một lần thay đổi nhà cửa, thay thành phố hay sang hẳn một tiểu bang khác, và mỗi một lần thay đổi là một lần hoang mang, một lần nén nỗi ngậm ngùi, cho dù nhà có đẹp hơn, thành phố có thích nghi hơn. Bởi vì đi đâu cũng thấy mình là “Người Di Tản”
Trong 50 năm, thế hệ hậu duệ của “Người Di Tản” đã làm nên bao nhiêu kỳ tích. Cái xấu cũng có xảy ra nhưng so với cái tốt thì quả thực hậu duệ của Việt Nam Cộng Hòa xứng đáng cho những quốc gia cưu mang mình không thất vọng.
Thời gian cứ thản nhiên trôi qua, Cha Mẹ chúng tôi và một vài người thân đã nằm im nơi đất khách, thế hệ của chúng tôi đã nhiều bạn bè bỏ đi biền biệt, họ chơi trò trốn tìm nhau dưới những đám cỏ xanh. Họ có tìm được nhau không?
Những người chưa chơi trò “Trốn Tìm” còn lại … Sáng thức dậy cùng mặt trời thấy mình hiện hữu, soi gương mắt đã rạn chân chim, tóc mỏng và trắng như sương mù, sương muối, biết là mình đã ở đây lâu lắm rồi. Lòng hoài hương nhớ về cố quận thì ai mà không có, nhưng họ vẫn sống với tất cả những gì họ có để gây dựng cho một thế hệ tương lai tốt đẹp hơn trong khả năng của mỗi người. Người Việt là một trong những số người Á Đông có sức chịu đựng bền bỉ, thông minh và chăm chỉ.
Hậu duệ của những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã có mặt ở mọi nơi, từ quân đội, chính trị, văn học, tôn giáo. Họ cống hiến và được đánh giá cao. Cái xấu đôi khi cũng có, nhưng so với cái tốt gặt hái được trên mọi lãnh vực, từ các nơi trên thế giới, giúp cho những người Quốc Gia đã hy sinh nằm xuống cũng được an ủi đôi phần.
Sau 50 năm nước Việt hoàn toàn về tay Cộng Sản, Cộng Sản vẫn sợ bóng, sợ vía lá cờ VNCH. Chỉ cần lá cờ mà họ đã khinh miệt, chà đạp đó xuất hiện dưới bất cứ hình thức nào, nhà cầm quyền Cộng Sản đã ầm ầm báo động và bắt phạt những người vô tình đứng cạnh. Mặc dù sau 50 năm khi có thiên tai xảy ra, trong nước vẫn không quên kêu gọi người Việt hải ngoại đóng góp. “Tình Đồng Bào” vẫn được ân cần nhắc tới.
50 năm, Nick Út, cựu nhiếp ảnh viên của AP rủ tôi về Hà Nội, nơi hiện thời AP có chi nhánh văn phòng ở đó. Tôi đã từ chối và nói cho Nick Út hiểu rằng, trong văn phòng đó không có một cựu phóng viên Mỹ nào của Saigon ngày cũ làm việc cùng chúng tôi nữa. Họ phần đông đã qua đời vì tuổi tác, nếu chúng tôi có về thì toàn gặp những nhân viên mới, cả Mỹ lẫn Việt, và những người Việt nếu có trong văn phòng đó, chắc chắn không phải là người quốc gia, nên đâu có thể gọi là re-union được, nó sẽ mang lại cho chúng tôi sự lạc lõng và … buồn.
Thời gian của tôi trôi về đâu
Năm mươi năm lòng vẫn còn đau
Tay vuốt tóc tay gày như tóc
Một nhánh hổ ngươi vạn nhánh sầu. (TMT)
Những tháng cuối năm, tôi hay mong ngóng những cuốn lịch mới. Từ những cuốn Lịch của nhà thờ, họ đạo ở thành phố tôi cư ngụ, có ghi những ngày Lễ các Thánh, Lễ quan trọng như Phục Sinh, Giáng Sinh… để nhắc nhở mình sửa soạn một tâm hồn nhẹ nhàng thanh sạch đến Thánh Đường dự lễ, tôi cũng tìm đến những cuốn lịch ở các siêu thị Á Đông có ghi những ngày tháng âm lịch để tiện theo dõi những Mồng Một, ngày Rằm, của tháng âm lịch. Tôi cũng hay lang thang vào tiệm sách để tìm mua Lịch mới, loại lịch xé mỗi ngày một tờ là loại tôi thích nhất, loại này hiếm, không phải dễ tìm.
Tôi thích những tờ Lịch mỗi ngày này. Tôi có thể ghi xuống đó những công việc sắp tới và khi ngày đó đi qua, tờ lịch được xếp sang một bên và tôi có thể xếp nỗi buồn vui của mình như xếp lại một tờ lịch đã hoàn tất. Những tờ lịch xé ra tôi để ngay vào một cái hộp bên cạnh đó. Thỉnh thoảng lại nhìn xem đã phung phí hết mấy phần thời gian trong đời sống và cuối năm có thể đếm được bao nhiêu giọt nước mắt với bao nhiêu tiếng cười.
Việc mua Lịch xé từng tờ này tôi yêu thích từ khi còn trẻ ở quê nhà. Bây giờ nhớ lại thời gian đã xé “Những Tờ Lịch Cũ” và đã thả chúng bay như bươm bướm từ văn phòng làm việc ở lầu 4 của Thương Xá Eden xuống dưới đường vào những ngày cuối năm trong một thành phố thơ mộng của ngày xa xưa đó chỉ còn là kỷ niệm …
Bây giờ ở quê người, tôi vẫn thích có cuốn lịch rơi từng tờ mỗi ngày, nhưng không phải năm nào tôi cũng tìm được. Cuốn lịch xé mỗi ngày năm nay của tôi là cuốn lịch có 365 tấm hình “Chim Trong Vườn Sau” đầy màu sắc. Cuốn này tôi có được do nhân dịp chị bạn thân Trùng Dương, ghé chơi vài ngày. Hai chị em lang thang trong một tiệm sách gần nhà, tôi tìm thấy lịch xé từng tờ mỗi ngày, mừng quá, reo ầm lên, Chị thấy tôi vui quá, vội vàng mua tặng.
Hình con chim đầu tiên trên cuốn lịch là con Northern Cardinal và con cuối năm là Western Tanager. Cả hai con chim này đều màu sắc rực rỡ.
Trong năm mới sắp tới này, hơn 300 con chim đầy màu sắc của vùng Tây Bắc nước Mỹ trên bàn viết, sẽ là niềm vui của tôi mỗi ngày. Mỗi lần mở một ngày mới, sẽ có hình một con chim mới khác nhau hiện ra, tôi sẽ đọc Thơ cho những con chim trong lịch nghe:
Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Con chim nào qua đó
Còn để dấu chân im
Anh một mình gọi nhỏ
Chim ơi biết đâu tìm.
(Phạm Thiên Thư)
Như những con chim để lại dấu chân trên gác chuông, chúng tôi những người di tản đã để lại nhiều dấu tích tốt đẹp: đó là thành công của con cháu người Việt gần như hầu hết trên mọi lãnh vực trên những quốc gia, những thành phố họ định cư.
Chúng tôi dù ở tuổi nào, luôn có niềm tự hào của những con chim bé nhỏ: Tự tin, xoải cánh trên bầu trời bát ngát.
Trần Mộng Tú – Xuân Ất Tỵ 2025

LỜI CUỐI CHO THIÊN ANH HÙNG CA


Thường Đức Quê Tôi
Giặc qua Sông Côn về Thường Ðức
Trong cơn gió lạnh cuối Trường Sơn
Quân ngược dòng sông đêm thao thức
Di binh, chuyển pháo tấn công đồn
Anh Biệt Ðộng Quân đêm phòng thủ
Nhìn qua ánh sáng lỗ châu mai
Thêm một đêm dài không giấc ngủ
Khói thuốc cay mờ trong mắt ai
Anh lính Địa Phương trong lô-cốt
Tay cầm ống phóng bảy-mươi-hai
Bên xóm nhà xa đèn ai đốt
Lập lòe ánh lửa bóng liêu trai
Anh lính Pháo Binh ghi tọa độ
Sẵn sàng yểm trợ pháo tầm xa
Chùi súng, thông nòng lo tu bổ
Tay sờ thép lạnh ướt sương pha
Anh Thiết Kỵ về đường liên tỉnh
Băng ngang Ðại Lộc đến Hà Nha
Vó câu dong ruổi như đời lính
Từ độ lửa binh chẳng về nhà
Anh lính Không Quân từ Ðà Nẵng
Phi pháo từng đêm chặn giặc về
Có lẽ đêm nay anh thức trắng
Ðợi chờ phi vụ đắng cà-phê
Anh Nhảy Dù về từ Quảng Trị
Ba-lô, súng đạn tới Cầu Chìm
Nhận đồ tiếp tế trên chiến lũy
Nghe hờn sông núi dậy trong tim
Ðại pháo từng đêm trên chiến trận
Xe tăng, bộc phá mở hàng rào
Anh vẫn hiên ngang làm bổn phận
Quê mẹ vì ai tẩm máu đào
Hơn ba mươi năm ngày lịch sử
Thường Ðức quê tôi những ngày buồn
Cũng bóng tre xanh người Thượng nữ
Vu Gia sông cũ nước xuôi nguồn
Tôi nhớ ơn anh, người lính chiến
Tháng ngày bảo vệ xóm làng tôi
Những kẻ hy sinh trên trận tuyến
Ngàn sau còn nhớ mãi không thôi...
Lê Chiến
(11/2008)

C O N M U Ỗ I

 


Có con muỗi nhép thích bay loanh quanh.
Nó nghe tiếng vỗ tay râm ran vang lên khi nó vo ve bên tai thiên hạ.
Muỗi ta nghĩ người ta thích nó vì nó bay đến đâu người ta vỗ tay mừng nó đến đó.
Muỗi thích chí càng vo ve tợn.
Kết cục nó nghe một tiếng vỗ lớn.
Đó là tiếng vỗ tay cuối cùng trong đời con muỗi.
Thời xưa có tích con muỗi vong ân phụ nghĩa thì thời nay cũng có tích con muỗi vo ve bay lang thang trên cõi mạng gặp gì chích nấy, vô tội vạ. Bị người ta vỗ tay đập chết thế mà lại tưởng vỗ tay cổ võ. Rõ chán cho muỗi nhép
Cụ Cử Phan Văn Trị, một sĩ phu yêu nước thời kháng Pháp có bài thơ
Vịnh con muỗi như sau:
Muỗi hỡi thân ngươi sướng mọi điều,
Thiếu chi chi nữa hãy còn kêu.
Giường ngà chiếu ngọc từng nương đậu,
Má phấn đào non cũng ấm yêu.
Béo miệng chẳng thương con trẻ dại,
Cảnh hồng nào đoái chúng dân nghèo.
Ngày sau hẳn gặp nhằm xơ quất,
Xử tội nhà ngươi mắt chẳng nheo.
Phan Văn Trị
Muỗi xưa chết vì xơ dừa người quất còn muỗi nay chết vì tiếng vỗ tay !!! Haizzza !
mnc

Sunday, November 3, 2024

CÂU CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG

 Khi tôi tìm lại những chiến công của tiền nhân trong lịch sử nước nhà dọc các miền đất nước, những núi những sông những tên đất, tên người  … đã góp phận tạo nên cẩm tú sơn hà. Từ Bắc vào Nam, từ Ải Nam Quan Chi Lăng đến mũi Cà Mau. Ba con sông lớn, Hồng Hà nơi máu giặc phương Bắc còn đỏ sắc sông, Cửu Long chín cửa rồng bay những sông Tiền, sông Hậu những chi lưu  Nhật Tảo Rạch Gầm Xoài Mút vang dậy chiến công Nam Bắc thì dòng Hương Giang êm đềm lờ lững uốn quanh Hoàng thành nhà Nguyễn một thời, tượng trưng cho non nước miền Trung không dậy sóng như Lô Giang, Nhật Lệ không đớn đau chia cắt như sông Gianh, Bến Hải. Con sông Hương chỉ dậy mùi thơm trong các bài thơ là tâm điểm của thi ca nhạc họa của những tâm hồn nghệ sĩ. Sông Hương tự cổ chí kim thế nào! Sông Hương chừ răng: 

“Rằng thưa phố Huế bây giờ, Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương” (BG) 

Người thơ điên cũng nhận ra sông Hương như rứa thê! 

Người nghệ sĩ lãng du với cây đàn đi từ Bắc vào Nam lắng nghe tiếng những con sông ba miền, khi ngang qua  đất thần kinh “Quê hương em nghèo lắm ai ơi,:mùa đông thiếu áo hè thì thiếu ăn…:  đã nghe 

“Miền Trung vọng tiếng, em xinh em bé tên là Hương giang, đêm đêm khua ánh trăng vàng mà than. 

Hò ơi, phiên Đông Ba buồn qua cửa chợ, bến Vân Lâu thuyền vó đơm sâu.

Hỡi hò, hỡi hò. 

….

Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm à ơi! … khiến đau thương thấm tràn, lấp Thuận An để lan biển khơi ơi hò ơi. (Phạm Đình Chương)


Nhớ lại năm xưa, có lần tôi ra xứ Huế. Bởi vì nghe Huế đẹp Huế thơ. Có dòng Hương Giang nước chảy lững lờ… 

Buổi sớm qua sông Hương không nhìn thấy dòng sông như  danh sĩ nổi loạn Cao Bá  Quát 

“Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền

Trường giang như kiếm lập thanh thiên 

( Muôn dãy non xanh ngát cánh đồng

Sông dài như kiếm dựng trời xanh.) 

Nhìn sông Hương như kiếm dựng thì chỉ có mỗi Cao Chu Thần mới thấy mà thôi. Không hề có một chiến công nào trên dòng Hương Giang vòng quanh Hoàng thành Huế thời vua chúa và ngược thời gian một chút khi Huế còn là Phú Xuân, kinh đô của nhà Nguyễn Tây Sơn ngắn ngủi trong lịch sử, sông Hương thoáng qua trong ngòi bút của danh sĩ Ngô Thì Nhậm 


Ức tích minh hương hội nhất đường,

Hương giang ngự tất hổ tiên đường.

Hoàng hoa tuế khiền truyền Kim mã.

Duệ táo thời bao phụng bảo chương.


Vua sáng tôi hiền xưa một đình

Hương giang ngự giá lối xe tiên

Xưa qua Kim Mã đường đi sứ,

Dâng tấm ngự chương bút ngợi khen


Về sau Nguyễn Du khi từ giã quê nhà Nghi Xuân, Hà Tĩnh vào Kinh mười năm lận đận quan trường, khi mùa thu đến ông viết bài thơ từ dòng Hương Giang nhớ về sông Lam quê cũ 


Thu chí 

Hương Giang nhất phiến nguyệt,

Kim cổ hứa đa sầu.

Vãng sự bi thanh trủng,

Tân thu đáo bạch đầu.

Hữu hình đồ dịch dịch

Vô bệnh cố câu câu.

Hồi thủ Lam Giang phố,

Nhàn tâm tạ bạch âu.

Nguyễn Du 

 

Mùa thu đến 

Một mảnh trăng sông Hương

Gợi nhớ bao sầu thương 

Chạnh lòng bên mộ cũ 

Tóc bạc đầu thu sương

Hữu thân nên hữu khổ 

Không bệnh mà còng lưng 

Sông Lam ngoảnh nhìn lại 

Như cánh bằng thung dung 

( mnc phỏng dịch)


Một bài thơ cổ nữa về dòng Hương qua thơ của vua 

Đệ thập nhất cảnh - Hương giang hiểu phiếm

Nhất phái uyên nguyên hộ đế thành

Thanh lưu sấn tảo nhạ lương sinh.

Ba bình xuân thuỷ lung yên sắc

Chu trục thần phong động lỗ thanh.

Thiên tửu vị can nhu ngạn thụ,

Sơn hoa do luyến kết vân anh.

Kỷ hồi hà yết Thương lang khúc,

Song khuyết phương thăng thuỵ nhật minh.

 Thiệu Trị 


Một dòng nước biếc bọc kinh thành

Sớm lạnh thuyền theo gợn nước xanh 

Sông nước vào Xuân mờ khói toả 

Mái chèo khua nhẹ vọng âm thanh

Đôi bờ cây cỏ mờ sương phủ 

Đỉnh núi lá hoa quyện gió lành 

Thuyền lướt êm theo dòng bất tận

Vầng dương lên đẹp cảnh như tranh 

mnc 


Lan man chỉ thấy một dòng Hương Giang muôn đời êm ả nên thơ … cho đến mùa Xuân Mậu Thân 1968. 


Mùa thu

3/11/2022