Wednesday, July 13, 2022

KHI VỀ

 khi đi ve sớm gọi hè  

khi về lửa lựu lập loè đơm bông 



tôi đến như người khách lạ 

đi tìm một chốn quê nhà

quắt quay trong cơn nắng hạ 

quê nhà càng lúc càng xa


cứ đến rồi đi như thế 

như con suối tìm về sông

như sông xuôi tìm về bể

biết có tìm lại được không? 


thời gian như là con nước 

trôi đi trôi đi ...mênh mông

không ai có thể được tắm 

hai lần trên một khúc sông 


kỷ niệm giờ đã lắng im

ký ức cũng lặng lặng chìm

mơ hồ có tiếng ai gọi

thôi thì cũng cố đi tìm


cũng đến mà không ai biết

rồi đi cũng không ai hay 

như câu thơ ngại không viết

viết xong rồi thả gió bay


gió có bay đi muôn hướng 

xin giữ lại chút mong manh

dẫu nhạt nhoà trong tâm tưởng 

thì thôi!  thôi thế cũng đành! 


mai ngoc cuong

khi về lại nhà 12/7

Có biết tôi là ai không ? Bùi Bảo Trúc

 Cho mãi đến mấy hôm trước, tôi mới tìm ra được câu trả lời cho một câu hỏi tôi bị hỏi từ hơn ba mươi lăm năm trước.




Một bữa đang ngồi trong quán cà phê ở Sàigon, thì tôi bị một người đàn ông gây sự và cuối cùng ông ta quăng ra cho tôi câu hỏi : “Ông biết tôi là ai không ?”

Quả thật lúc ấy, tôi không biết ông ta là ai thật. Ông không phải là một tài tử, một nhà văn, hay một chính trị gia nổi tiếng để tôi phải biết. Tôi đành ngồi đó, chịu thua ông, không có câu trả lời.
Ít lâu sau, tôi được cho biết ông là đàn em của một quan chức lớn, và nhờ đó, ông thỉnh thoảng đem chút “hào quang” vay mượn được để hù dọa những người yếu bóng vía như tôi.

Sang đến Mỹ, thỉnh thoảng tôi cũng bị hỏi câu hỏi đó, mà đau cho những người đó, cả Mỹ lẫn Việt, tôi không bao giờ có câu trả lời cho câu hỏi đó của họ cả. Họ thì nghĩ tôi phải biết họ, mà thật tình, tôi thì không hề biết họ bao giờ. Và cứ mỗi lần bị những nhân vật như thế cật vấn, thì tôi chỉ biết ngẩn mặt ra, giả bộ lục lọi cái trí nhớ thảm hại của tôi để tìm câu trả lời cho người nổi tiếng nhưng vô danh và không ai thèm biết đó.

Mấy tháng trước, trong chuyến về lại Los Angeles, California , tôi phải ghé lại Newark, New Jersey để đổi máy bay. Phi cơ của tôi bị trễ hơn một tiếng. Hành khách có một số rất bực bội vì công việc bị xáo trộn do sự chậm trễ của máy bay gây ra.

Tại quầy bên cạnh cổng 112, một tiếp viên dưới đất của công ty đang cố giải quyết những yêu cầu, khiếu nại của khách hàng thì bỗng nhiên một hành khách có vẻ tức tối lắm, lấn lên phía trên, len qua mặt mấy người khác và ném tấm vé lên quầy.

Ông ta nói lớn rằng ông ta muốn được cho bay chuyến sớm nhất và phải xếp cho ông ta ngồi hạng nhất. Người tiếp viên trả lời rằng cô xin lỗi về những phiền nhiễu mà chuyến bay gây ra cho ông, nhưng cô cũng phải giải quyết những hành khách tới trước và hứa là sẽ giúp ông khi đến lượt ông.

Nhưng ông khách không bằng lòng, ông hỏi như hét vào mặt cô, rõ ràng là để cho các hành khách khác cũng nghe được. Ông hỏi đúng câu mà tôi cũng bị hỏi mấy lần : “Cô biết tôi là ai không ?” (Do you know who I am ?).

Thì ra người Mỹ, trẻ và xinh như cô tiếp viên cũng bị hạch hỏi bằng câu đó chứ chẳng riêng gì tôi. Tôi liền cố lắng tai nghe xem cô tiếp viên ở quầy trả lời như thế nào để biết mà ứng phó sau này.

Người phụ nữ này, vẫn tươi cười, cầm chiếc micro của hệ thống khuếch âm lên và nói lớn bằng giọng rành rẽ rằng: “Ở quầy 112, có một vị hành khách không biết mình là ai, quí hành khách ai có thể giúp ông ta biết được căn cước hay thân thế của ông, xin tới quầy 112.”

Ông khách tự nhiên, vì chính câu hỏi của ông, biến thành một bệnh nhân tâm thần, một người mắc Alzheimer, một người lãng trí, tâm lý, thần kinh thác loạn, lẫn lộn bản thể, không còn nhớ mình là ai, tên gì, ở đâu nữa. Và lúc ấy thì đám hành khách đang sốt ruột đứng trước quầy đều phá ra cười.

Ông khách điên tiết, chỉ mặt người tiếp viên ở quầy và bật ra một câu chửi thề tục tĩu : “Đ.M. mày” (F..k you) .

Người phụ nữ ở quầy, không một chút giận dữ, bằng giọng bình thản, trả lời ông nguyên văn như thế này : “I’m sorry, sir, but you’ll have to stand in line for that, too”. (Thưa ông, chuyện đó, chuyện ông đòi giao hợp với tôi, ông cũng phải xếp hàng chờ đến lượt mới được.)

Chao ôi, hay biết là chừng nào ! Thế mà tôi không nghĩ ra từ bao nhiêu năm nay để mà ấm ức không nguôi.

Bây giờ, nếu người đàn ông ngày xưa ở Saigon hay dăm ba người khác đặt lại câu hỏi đó với tôi, thì tôi đã có ngay được câu trả lời học được của người tiếp viên phi hành ở phi trường Newark, New Jersey hai hôm trước.

Bùi Bảo Trúc

Friday, July 8, 2022

BÙI GIÁNG BÌNH THƠ QUANG DŨNG Bài KẺ Ở (MAI CHỊ VỀ)

 

KẺ Ở

QUANG DŨNG 


Mai chị về em gửi gì không ?

Mai chị về nhớ má em hồng

Đường đi không gió lòng sao lạnh

Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong

Quê chị về xa mù dặm xa

Rừng thu chiều xao xác canh gà

Hoa rơi khắp lối, sương muôn ngã

Ngựa lạc rừng hoang qua lướt qua

Ngựa chị dừng bên thác trong veo

Lòng chị buồn khi nắng qua đèo

Nơi đây lá giạt vương chân ngựa

Hươu chạy quay đầu theo ngó theo

Rừng đêm nhòa bóng nhớ hoang mang

Ngựa chị dừng bên thác trăng vàng

Sao rơi đáy nước vương chân ngựa

Buồn dâng đôi mi hàng lại hàng.

Quang Dũng



Quang Dũng có tên khai sinh là Bùi Đình Diệm, sinh năm 1921 mất 13 tháng 10 năm 1988. Quê quán ở làng Phượng Trì, huyện Đan Phượng, Hà Tây (nay thuộc là huyện Đan Phượng, thủ đô Hà Nội).


BÙI GIÁNG BÌNH THƠ : "KẺ Ở"


         Mai chị về em gửi gì không                      

         Mai chị về nhớ má em hồng


     Chỉ hai câu đầu đã khiến người tê lạnh. Không có gì cả, không lời nào tha thiết, nhưng đúng như ông Huy Trân nói: “Thơ Quang Dũng ý đã nhiệt thành, cao đẹp, mà lời thơ lại êm ái gợi cảm vô cùng. Nói về thơ nhẹ nhàng, êm dịu, mà đọc tới đâu lâng lâng chết cả lòng đến đấy, thì thi ca hiện đại chỉ có Quang Dũng.”

Thi ca hiện đại hay thi ca ngàn đời, thi ca Việt Nam hay thi ca thế giới – vâng – cũng chỉ riêng một Quang Dũng thôi.


         Mai chị về em gửi gì không 

         Mai chị về nhớ má em hồng 

         Đường đi không gió lòng sao lạnh 

         Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong


     Đó là chỗ sơn cùng thủy tận của ngôn ngữ. Ngôn ngữ thần tiên hiển hiện tinh thể một cách không thấy hình hài máu me đâu cả. Người ta đã bao đời đi tìm cõi huyền nhiệm của ngôn ngữ thơ. Mỗi phen trở về, mỗi phen như bó tay lắc đầu, tuyệt nhiên không biết ăn nói ra sao cả. Đành chỉ nói quanh co.

Và biết bao thy sỹ hoằng viễn đã nghĩ rằng, nguyệt rằng, mình sẽ suốt đời không làm một vần thơ nào cả - một phen để hội cái chỗ dị thường trống trải vắng vẻ trong lời man mác thiên tiên kia.

Lại có những nhà tư tưởng như Heidegger, viết bao pho sách lịch kịch nêu bao câu chất vấn u ẩn, đáo cùng vẫn chỉ nhằm mục đích nhiếp dẫn tư tưởng tới chỗ mép bờ bất khả tư nghị của thi ca.

       Nerval sau những lần thành tựu cõi miền ngôn ngữ đó, ông bèn lao mình vào cõi ẩn mật vô ngần của một nguồn siêu thực không tiếng không lời Les Chimères.

Apollineire, sau phút dị thường bước lên tột đỉnh đạm nhiên kia, lập thời nhảy lùi làm thơ theo thể thái bông lông tầm phào, bất sá lam hồng tố bạch.


        Mai chị về em gửi gì không?


     Câu hỏi cũng lững lờ như lời đáp cũng lửng lơ. Hỏi mà cũng không hỏi, không nói, không ngó, không nhìn nhau…

Và chỉ sau khi lên ngựa, chia bào, con người mới để lòng mình bay tỏa khắp đường đi.


        Đường đi không gió lòng sao lạnh 

        Bụi vướng ngang đầu mong nhớ mong


     Tâm sự của người đi, nhưng nhan đề là kẻ ở. Kẻ ở hay người đi cũng một tâm tình ly biệt. Đi giữa không gian, thì cũng như đứng ở trên dâu biển. Lòng sao lạnh? Vì lòng mang chứa tất cả khoảng vắng lạnh? Vì lòng mang chứa tất cả khoảng vắng lạnh không gian… Và tiếng “mong nhớ mong” kia cũng chỉ vọng vào được trong không gian xa hút mà thôi.

Nghĩa là vọng trở lại vào lòng mình. Từ lòng mình toả vào lòng vũ trụ. Lại từ lòng vũ trụ dội lại lòng mình. Đó là cái vòng kỳ ảo của mong nhớ mong. Và mong nhớ mong mênh mông như thế, thì mong nhớ mong là cõi của từ bi tế độ vậy.

Bởi vì nó mang hải lượng bao hàm. Nó bao dong rừng biển, sớm chiều, canh gà, sương hoa, cành hoang ngựa lạc. Nó đem thương mến phủ khắp hình hài vạn vật từ gần gũi tới xa tít dặm xa.


        Quê chị về xa tít dặm xa


     Vì đó là một quê hương nào riêng biệt nằm tại một bến bờ bỉ ngạn nào vô tức vô thanh, vô biên vô tế.


        Quê chị về xa tít dặm xa 

        Rừng thu chiều xao xác canh gà 

        Hoa rơi khắp lối sương muôn ngả 

        Ngựa lạc cành hoang qua lướt qua


      Ngựa lạc? Dẫu ngựa không lạc đường vẫn cứ là lạc nẻo. Nghĩa là: ở trong cõi hư không bao la như thế, thì đâu cũng là lênh đênh, nhưng lênh đênh theo nghĩa vô ngần: trụ vô sở trụ.

Người ngồi trên ngựa cũng lạc ngựa luôn. Hươu trong rừng cùng một cảnh ngộ lạc loài như nhau, lại tam trùng lạc lõng nhau, vì bất ngờ sợ hãi nhau, quay đầu bỏ chạy. Lời thơ lại thêm một chút niêm hoa vi tiếu “theo ngó theo”.


        Ngựa chị dừng bên thác trong veo


      Nếu thác đục lầy cho một chút, ắt có phần gần gũi bụi hồng hơn. Nhưng tại sao thác lại trong veo cắc cớ ra như thế? Thì trần gian còn biết đem tâm sự hồng trần ký thác vào đâu? Đó là chỗ đạm nhiên huyền bí lô hỏa thuần thanh vậy. Nó đốt cháy linh hồn bằng một tiếng trong veo. Nhưng đốt cháy mà đâu có bỏng da bỏng thịt. Nó cháy để thăng hoa cho linh hồn về ba la mật, sau một phút linh hồn tạm dừng trong một phen tư lự. Vì dù sao trận giũ áo cũng còn vướng víu với nhân nghĩa nhân tình.


       Ngựa chị dừng bên thác trong veo 

       Lòng chị buồn khi nắng qua đèo 

       Nơi đây lá giạt vương chân ngựa 

       Hươu chạy quay đầu theo ngó theo


   Rồi sẽ xin khóc một cơn vô ngần cho trùng sinh trong vĩnh biệt:


       Rừng đêm nhòa bóng nhớ hoang mang 

       Ngựa chị dừng bên thác sao vàng 

       Sao rơi đáy nước vương chưn ngựa 

       Buồn dâng đôi mi hàng lại hàng


       Ta lại gián tiếp với một sự tình kỳ dị. Nói ra là buồn dưng đôi mi hàng lại hàng, nhưng có bao giờ mối sâu mênh mông và hầu như vô đối tượng lại tràn ra thành hàng lệ. Nhưng đây là hàng lệ riêng biệt của hư không đi về vui chơi êm đềm với không hư thái thiên nhiên tĩnh tịch. Người ta có thể khóc, nhưng không phải khóc vì một mối đoạn trường riêng tây trong một cảnh ngộ nhất định.

        Hoặc đâu có phải bạ đâu khóc đó như bọn thy sỹ trung niên. Người ta khóc từ chín kiếp khóc về; như trận mưa vốn từ thiên thu rớt hột. Vì thế nên gọi là hàng lại hàng. Vì thế nên có chuyện sao rơi đáy nước. Vì thế nên có chuyện sao vương chưn ngựa. Chưn ngựa ở đây cũng mang đủ trùng quan thời gian vũ trụ nên mới có thể chạm vào bóng sao rơi từ thời gian tinh thể rớt về. Người và ngựa và sao và nước bỗng nhiên như nhiên đã đi vào cõi chung vạn vật nhất thể. Thì từ đó trở lại với đoạn đầu, từ câu hỏi mông lung tới lời đáp nhẹ nhõm, niềm mong nhớ mong là một tặng vật không lời, không nhất định là riêng biệt của riêng ai trao gửi lại cho ai. Người chị và người em kia cũng không có tên tuổi nào được hạn định nơi đâu. Đó là hai đứa con của trời và đất đẻ ra trong một mùa xuân hôn phối. Thì mai chị về em gửi gì không, là gửi cho chị hay cho ai? làm sao ta dám quyết định? Chỉ biết rằng: chị hãy nhớ má em hồng. Nghĩa là: mùa xuân xanh còn tồn lưu mãi mãi trong mùa thu ly biệt. Đó là tặng vật của em trời trao chị đất – nhớ má em hồng là ký ức kỳ ảo Mnémesyne.

       Chẳng hiểu sao đọc thơ Quang Dũng, Nguyễn Du, Hồ Dzếnh, Huy Cận, tôi thường nghĩ tới người Chiêm Thành. Tội lỗi ông cha chúng ta đối với dân tộc ấy kể cũng được chuộc phần nào, cũng như ngày xưa Homère đã giải oan cho người Troyens bị đắm chìm bởi người Hy Lạp.

      Mấy bài thơ của Quang Dũng như giữ lại cho mọi người một niềm tương ứng mênh mông trong thời đại ngỗn ngang oan nghiệt, thế giới cùng xô ùa nhau vào hủy diệt, tàn phá, trong những trận tẩu hỏa nhập ma. Chiến tranh trong thời Quang Dũng dù sao cũng còn để lại cho người một dư địa để hoài niệm nhớ thương nhau. Nhưng dần dà, chút tình thương còn sót cũng mất đi giữa hỗn độn. Lúc bấy giờ e chỉ còn cửa quỷ đối thoại với nhà ma. Quang Dũng cũng linh cảm sự đó, nên bài “Đôi Mắt Người Sơn Tây” khép lại với mấy tiếng “bao giờ, bao giờ” ngậm ngùi khôn tả:


        Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn? 

        Về núi Sài Sơn ngóng lúa vàng 

        Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc 

        Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng


       Bao giờ ta gặp em lần nữa 

       Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa 

       Đã hết sắc màu chinh chiến cũ 

       Còn có bao giờ em nhớ ta


     Khoảng trống lại trở về ngập khắp mép bờ ngôn ngữ. Như muốn đánh chìm hết mọi lời thân thiết đã thốt ra. Chúng ta không còn biết phải giải thích thơ Quang Dũng ra sao được nữa cả. 


      Ngày ấy thanh bình chắc nở hoa



     Nhưng có lẽ ông không tin ở ngày ấy, ông không nghĩ rằng ngày nở hoa ấy sẽ về. Còn có bao giờ em nhớ ta? Nghĩa là không còn có bao giờ nữa cả? Chúng ta sẽ tiếp tục chết hết. Người ta sẽ tiếp tục giết nhau cho tới buổi chung cục thời gian. Cuộc chiến tranh ngày nay không còn chút gì giống như chiến tranh những thời đại trước. Có những cuộc chiến tranh huy hoàng như một trận mưa rào rực rỡ, làm hồi sinh con người trong tâm thức từ bi. Nhưng có những cuộc chiến tranh vốn từ trong tinh thể là làm tan rã tiêu diệt mất bản tính con người. Ngay cả con ngợm, con đười ươi cũng không còn sống sót một mống nào hết cả. Thì như thế? Còn có bao giờ em nhớ ta?




Người ta nhầm lẫn một cách kỳ quặc cái ý nghĩa sơ thủy của chiến tranh. Cuộc chiến tranh bao dong của những ông Nguyễn Huệ, chiến tranh bác ái của những ông Napoléon, chiến tranh đó không còn tự nhận diện ra mình nữa trong cuộc chiến tranh tàn phá ngày nay. Tolstoi ngày xưa chẳng hiểu gì về Napoléon hết cả, cũng như chúng ta ngày nay chẳng hiều gì cả về cuộc chiến tranh của chúng ta. Thật là cắc cớ. Còn có một chân lý dị thường ẩn tàng trong Dịch Kinh của Khổng Tử đang khiến mọi người tư tưởng ngậm ngùi không còn biết phải thốt bất cứ một lời gi trong hiện trạng năm châu. Bài thơ Quang Dũng hiện ra tại chỗ chênh vênh bát ngát và thê thảm nhất trong sử lịch con người. Nó chỉ đạm nhiên và thống thiết khơi rộng những khoảng trống vắng ra để cho mọi vấn đề được nhận định và tự tìm lời giải đáp.

        Bàn luẩn quẩn mãi là vô lối. Chỉ nên thong dong đọc thơ như uống nước mía, như dõi theo cánh chuồn chuồn, như nằm ngủ gọi em Thúy Kiều em Thúy Vân em Đạm Tiên, em Hoạn Thư em Bạc Hạnh, em Sở Khanh, em Mã Giám Sinh, mọi mọi em em của em Tố Như Tử em Liệp Hộ em Thanh Hiên, em Hiền em Thánh, em Cành em Nhánh, em Trái Ớt, em Muối Tiêu, em Soài Riêng sa rụng, em Bương Cấn em Sài Sơn…


       Bao giờ trở lại đồng Bương Cấn 

       Về núi Sài Sơn ngóng lúa vàng 

       Sông Đáy chậm nguồn quanh Phủ Quốc 

       Sáo diều khuya khoắt thổi đêm trăng.


    Tuy nhiên riêng đối với học sinh đang tập đi thi để cuối năm cưới vợ thì chớ nên lẩn thẩn chiêm bao đọc thơ nhiều quá. 

                                                                            BÙI GIÁNG                                                                                                                                          

Monday, July 4, 2022

Đọc thơ xưa

Ngồi bến sông này nhớ bến sông kia 

Nơi mỗi bến sông là chờ đợi 

Mà im tiếng gọi đò 

và không ai còn gọi 

Mỗi dòng sông là một cách chia

Mỗi bến sông 

nơi cuống rún chưa lìa 

Du tử vẫn chưa về 

Du tử có đôi khi lòng chùng xuống 

Sông cứ trôi đời sông! 

thuyền hải hồ muôn hướng 

Thuyền vẫn mong về lại bến sông xưa 

Những bến sông trong tâm tưởng 

Tiếng gọi đò còn vẳng 

trong gió đưa 


Hồ mã tê bắc phong 


Đọc thơ xưa tình cờ bâng khuâng trong một sớm 

Tháng bảy về trên miền đất tạm dung 

Thuyền ơi! Thôi ghé bến 

Nơi này xin nhận làm quê hương 


July 4th 


利洲南渡                

 Lợi Châu Nam Độ


 澹然空水對斜暉,  

Đạm nhiên không thủy đối tà huy,

 曲島蒼茫接翠微。  

Khúc đảo thương mang tiếp thúy vi.

 波上馬嘶看棹去,  

Ba thượng mã tê khan trạo khứ,

 柳邊人歇待船歸。  

Liễu biên nhân yết đãi thuyền qui.

 數叢沙草群鷗散,  

Sổ tùng sa thảo quần âu tán,

 萬頃江田一鷺飛。  

Vạn khoảnh giang điền nhất lộ phi.

 誰解乘舟尋范蠡?  

Thùy giải thừa chu tầm Phạm Lãi?

 五湖煙水獨忘機。  

Ngũ hồ yên thủy độc vong ki.

                       

                    溫庭筠                             

    Ôn Đình Quân


Dịch nghĩa: 


Qua Bến Đò Nam Lợi Châu


Sông nước lững lờ chở nắng cuối ngày trôi

Khúc đảo xanh xanh vòng quanh chân núi xanh 

Trên sóng nước, ngựa hý , nhìn thuyền chèo đi

Bên bờ liễu ,khách đợi , ngóng thuyền quay về

Bầy chim âu chạy xao xác , quanh mấy bụi cỏ trên bãi cát

Một cánh cò bay lờ lững trên cánh đồng mênh mông dọc ven sông

Có mấy ai hiểu được chuyện chèo thuyền đi tìm Phạm Lãi

Để cùng hưởng thú Ngũ Hồ khói nước, thoát khỏi vòng danh lợi thị phi . 





Dịch thơ 


Qua Bến Đò Nam Lợi Châu


Nắng chiều trên sóng nước long lanh

Khúc đảo xanh biêng biếc núi xanh

Dõi mắt theo thuyền trôi ngựa hí

Người trên bến đợi liễu nghiêng cành

Hải âu xao xác trên bờ cát

Và một cánh cò mải lượn quanh

Ai biết lòng ta mơ Phạm Lãi 

Ngũ hồ vui thú chẳng đua tranh 


Cao Nguyên 

SÀI GÒN XƯA MỘT THUỞ CÀ PHÊ

sáng ngồi cà phê một mình 

nơi phương xa bỗng nhớ 

… 




SÀI GÒN XƯA 

MỘT THUỞ CÀ PHÊ 

Lang thang trên “tám phố Sài Gòn”

Bạc áo thanh niên mộng chửa tròn 

Gác trọ một thời thao thức nhớ 

Sài Gòn hương cũ cà phê ngon.


Sài Gòn nhớ quán cóc trước nhà 

Hẻm kiệt loanh quanh ngoại ô xa 

Chân quen phố thị đi là nhớ

Nhớ từ quận Một đến quận Ba 


Tân Bình Bình Thạnh qua Ông Tạ 

Lòng vòng về cư xá Lữ Gia 

Uống cà phê như là uống nước 

Ngồi đồng quán xá cứ như là …


Sài Gòn buổi sáng uống cà phê. 

Bình dân Năm Dưỡng hoặc Lá Me, 

Nguyễn Du quán cóc bên Bưu Điện 

Nhấm nháp cà phê sáng vỉa hè 


Nhịp sống thảnh thơi trong Nắng Mới

Lạ quen một góc phố bạn bè 

Lá me rơi nhẹ trên vai áo

Âm thanh phố xá đã quen nghe 


Cà phê nhỏ giọt rơi từng giọt 

Bất cứ nơi nào bất cứ đâu 

Ly cà phê đắng nhưng mà ngọt

Như cuộc đời này nhớ rất lâu 


Sài Gòn cà phê tối đôi  khi 

Cuối tuần hò hẹn rủ nhau đi 

Ghé quán Thằng Bờm hay Hầm Gió 

Nghe Dạ Khúc buồn em ướt mi 


Đèn đêm soi bóng qua ngõ vắng 

Hồn thanh niên lãng đãng mùa thi 

Quán Văn…Hội quán Cây Tre … nhớ  

Cà phê nhừa nhựa giọng Khánh Ly 


Thanh âm ma mị vờn khói thuốc 

Cuốn hút hồn ta đến dị kỳ 

Sài Gòn ngồi quán mai chiều tối 

Cà phê nhỏ giọt ướt xuân thì 


Dưng không bên tách cà phê nhớ 

Sài Gòn một thuở đã không còn 

Sài Gòn đã xa Sài Gòn nhớ 

Vẫn nhớ cà phê nhớ Sài Gòn 


cao nguyen

mai ngoc cuong