Wednesday, June 1, 2022

Chiến Tranh, Người Lính, Và PTSD.

 

Con đường dài nhất của người lính không phải là con đường ra mặt trận, mà chính là con đường trở về nhà. Đúng vậy, con đường trở về mang nhiều cay đắng, xót xa của vết thương lòng, của những cái nhìn không thiện cảm của người chung quanh mình, và nhất là những cơn ác mộng mỗi đêm, cho dù người lính đã giã từ vũ khí mong sống lại đời sống của những ngày yên bình trước đây.



Những người lính Mỹ, trong đó có con em người Việt chúng ta, thế hệ thứ hai, đã và đang còn chiến đấu cho chúng ta được sống và làm việc an bình trên vùng đất lành này. Không ít những người lính đó đã để lại một phần thân thể nơi những vùng đất xa lạ, có người trở về với những vết thương trên thân mình, lại có người trở về với những vết sẹo khó lành ở trong tâm hồn, với những đêm mất ngủ khi ác mộng kéo về.

Trong chiến tranh Việt Nam, vào thập niên 70, người Mỹ mới nghe nói nhiều về căn bệnh “hậu chấn thương tâm lý” hay còn được gọi là Post Traumatic Stress Disorder (PTSD), mà nhiều cựu chiến binh mắc phải khi trở về từ chiến trường. Căn bệnh này ảnh hưởng đến hệ thần kinh làm người bệnh khủng hoảng tinh thần, cảm giác bất an, tội lỗi, tự dằn vặt, hoặc bị khó thở, đau đầu kinh niên, ứng xử cộc cằn, và bị ác mộng về đêm vì họ đã phải trải qua, chứng kiến những thảm cảnh chết chóc, hãi hùng vượt quá bản chất của con người trong chiến tranh. 

Những cựu binh Mỹ khi trở về, đã không được chào đón, mà còn bị kỳ thị với ánh mắt khinh bỉ của dân chúng vì những phong trào phản chiến, những thành phần khuynh tả cực đoan. Khi những người cựu quân nhân này đi xin việc, đa số bị từ chối vì ác cảm. Điều này cũng làm trầm trọng thêm căn bệnh PTSD và khiến nhiều người phải tìm quên trong men rượu hoặc chất kích thích như cần sa hay bạch phiến mong quên đi quá khứ kinh hoàng và hiện tại đau thương. Nếu gia đình và cộng đồng hiểu và nâng đỡ, họ sẽ vượt qua được chấn thương tâm lý này, còn không, một số trong bọn họ sẽ trở thành kẻ không nhà, tội phạm, nghiện ngập, lang thang khắp các đường phố mà không còn thiết đến ngày mai.

Giờ đây những cuộc chiến ác liệt ở vùng Trung Đông vẫn còn dai dẳng đến ngày nay như Iraq, Syria, và Lybia v…v.... Riêng mặt trận Afghanistan đã kéo dài hơn 18 năm nay, tốn biết bao nhiêu tiền bạc và xương máu của người Mỹ. Những cuộc chiến này mục đích là cố gắng quét sạch tận gốc những tổ chức khủng bố từ trong trứng nước, ngay từ những quốc gia nuôi dưỡng khủng bố và cực đoan.

Tôi có dịp làm việc và đi công tác ra nước ngoài nhiều lần cùng với anh JF, một đồng nghiệp cùng sở, trạc hơn 40 tuổi, ít nói, hay trầm tư. Anh là chuyên viên về avionics (điện máy bay) và software (phần mềm), trực tiếp hỗ trợ chúng tôi khi cần thiết. Vì tính khí anh bất thường nên không mấy ai thân mật với anh ta, ngoài những lúc công việc đòi hỏi mà thôi. Phải mất một thời gian dài tôi mới để ý anh ta hay có những cử chỉ đôi khi rất kích động pha lẫn lo âu, chán chường, hay rơi vào trạng thái cô độc, trầm tư một mình và xử sự rất khác người. Có những ngày anh ta không muốn ăn uống gì cả, chỉ qua loa cho xong bữa mà thôi. 

Trong 1 chuyến công tác xa nhà bên Châu Phi, chúng tôi 5 người, ngủ chung trong 1 căn phòng nhỏ, một đêm bị thức giấc giữa đêm vì tiếng ú ớ, la hét hoảng sợ của JF. Anh bật dậy, ngơ ngác, rồi ngồi thu lu một mình trong bóng đêm với hai tay ôm chặt hai bên thái dương, rồi nằm xuống trăn qua trở lại chờ trời sáng. Hôm sau, anh xin ván ép và tự đóng cho mình 1 cái hộp vừa đủ bao quanh giường mình, không muốn làm phiền những người kế bên. Một phòng thật nhỏ bên trong một phòng ngủ cũng nhỏ.

Sau này khi thân nhau hơn một chút, anh thường hay hỏi tôi kể về chiến tranh Việt Nam và thái độ của người Việt Nam đối với lính Mỹ ra sao. Tôi thật thà kể anh nghe về những điều tuổi thơ tôi trải qua trong chiến tranh, những chết chóc, tang thương trong tết Mậu Thân 1968 và những xác người la liệt trong rừng, trên con đường tử lộ 7B, mà tôi là 1 cậu thiếu niên trên trong đoàn người di tản đó, con đường dẫn về Tuy Hòa khi quân đoàn II rút khỏi Pleiku tháng 3, năm 1975. Tôi cũng không quên trận pháo kích vào trường tiểu học học Cai Lậy giết chết các em học sinh vô tội . Những lúc đó, anh ngồi thừ người ra, im lặng, vẻ suy tư mông lung lắm. Mấy ngày sau đó, anh cũng không muốn nói chuyện với ai, kể cả tôi.

Một ngày, khi đang lan man chuyện trò, anh chợt hỏi món ăn Việt Nam nào ông thích nhất? Tôi trả lời, phát âm kiểu Mỹ: - Pho. Anh nói không phải “pho” mà là “phở”. Lối phát âm hệt như người Việt chính cống làm tôi ngạc nhiên. Anh giải thích vợ cũ của anh gốc Việt, mẹ vợ là người Việt Nam. Bà theo chồng là lính Mỹ gốc Phi về nước sau khi quân đội rút khỏi Việt Nam. Anh và vợ có một con trai khoảng 10 tuổi, khi ly dị, đứa con ở với vợ.

Rồi dần dần chúng tôi thân nhau hơn, hay ngồi ăn cùng bàn, càng ngày tôi càng hiểu anh ta nhiều hơn. Sau 20 năm trong quân đội, anh giải ngũ vì nhiều triệu chứng trầm cảm và thần kinh. Bác sĩ cho hay anh bị hội chứng PTSD, đến 70%. Trở về đời sống dân sự, anh có thể không cần đi làm mà vẫn sống đủ với tiền lương hưu và thương tật từ quân đội, nhưng anh đi làm để khuây khỏa và quên đi quá khứ vẫn còn đeo bám anh. Hiện anh đang có cô bạn gái gốc Mễ, đã một đời chồng và có 1 đứa con gái riêng. Cô là y tá trong bệnh viện cựu chiến binh, cả hai hứa hẹn sẽ nên duyên vợ chồng trong một vài năm nữa. Anh hay khoe nàng có làn da nâu, một mái tóc huyền rất dài, và đôi má lúm đồng tiền thật sâu hai bên má mỗi khi nàng cười. Những lúc này, khuôn mặt anh rạng rỡ và hạnh phúc.

Sau đây là lời tâm sự của JF, xen lẫn với lời kể của tôi:

JF: 
Tôi đăng vào lục quân khi vừa xong bậc trung học để thoát khỏi kiếp không nhà, ăn nhờ ở đậu trong một nhà kho chứa nhạc cụ của trường. Cha tôi bỏ bê gia đình đi theo một mối tình mới. Mẹ tôi, một nách 3 đứa con, không nghề nghiệp gì, cũng đi theo một người đàn ông khác. Ba anh em mỗi đứa một nơi. Người chị lớn bỏ đi sống chung với bạn trai năm 17 tuổi, người anh kế kết bè đảng đi ăn cướp, rồi bị tống vào tù.

Riêng tôi còn hai năm nữa mới xong trung học. Nhờ chăm chỉ và sáng dạ nên một ông thày thương tình đem tôi về ở trong nhà kho chứa nhạc cụ của trường để ăn ngủ tạm ở đó cho đến khi xong trung học. Ngày tốt nghiệp cũng là ngày tôi từ giã bạn bè và người thày tốt bụng lên đường vào quân ngũ. 
Lễ tốt nghiệp trung học cũng là ngày trọng đại nhất trong cuộc đời tôi vì vừa đủ tuổi đi lính, đủ khôn ngoan để có thể đứng vững trên đôi chân mình không phải nhờ vả ai, và nhất là để có thể tự quyết định lấy cuộc đời mình. Tôi mơ ước khi vào lính, tôi sẽ gia nhập lực lượng đặc biệt, lính thứ dữ để trở thành một “door-kicker”, một người hùng luôn đi đầu trong mọi chiến dịch.

Sau khi trải qua mấy tháng quân trường như mọi người lính khác, tôi tình nguyện gia nhập lực lượng đặc biệt ARSOF (Army Special Operation Forces) làm người lính chiến trực tiếp cho National Security Agency thuộc bộ quốc phòng. NSA chuyên về công tác tình báo tuyệt mật, đột nhập, do thám, đánh chiếm cứu con tin, hay vào tận sào huyệt bắt sống những kẻ thù còn được gọi là HTV (High Target Value) để đem về điều tra. Tôi bắt đầu khóa huấn luyện đặc biệt kéo dài 1 năm, chuyên về kỹ thuật cao cấp để bẻ khóa (hacking), mã hóa (cryptology) về điện toán, kiến thức khoa học, khả năng chuyên môn biết xử dụng trang thiết bị lấy dấu vết và phân tích vân tay cho đến khuôn mặt con người.

Sau cùng là khóa huấn luyện kỹ năng sống còn, mưu sinh thoát hiểm, cấp độ C (C-level) có tên là: S.E.R.E. (phát âm là “XIA”), viết tắt (acronym) của 4 chữ: tạm dịch như sau: Survival: Sống sót. Evasion: Tránh né. Resistance: Chống cự. Escape: Thoát hiểm.

Tôi: 
Mỗi lần đi công tác nước ngoài (oversea deployment), trước khi được gởi đến những vùng chiến sự, tôi cũng phải qua khóa này trong một thời gian 7 ngày, nhưng ở mức độ A (A-level), cấp độ vỡ lòng, không khó khăn lắm cho nhân viên dân sự. Phần lý thuyết bao gồm cách sống còn khi lạc trong rừng, làm cách nào không bị đói, khát, cách giữ ấm, cách đánh dấu, liên lạc với phe ta, và kiếm đồ ăn cho tới khi được cứu. Nếu bị bắt thì ứng xử ra sao, tránh để bị mua chuộc làm hại bạn đồng tù. Cách hành xử và tránh né khi bị điều tra ép cung. Cuối cùng là nếu bị bắt, phải cố gắng để lại dấu vết cho biết nơi mình bị bắt. Trong tù, phải biết cách gõ trên tường, liên lạc với nhau bằng Morse code. Nếu có cơ hội, dù với nhiều bạn tù hay một mình, thì vượt ngục cách nào. Dù không phải chiến binh, chúng tôi vẫn có quyền yêu cầu được đối xử theo diện tù nhân chiến tranh chiếu theo luật quốc tế Geneva Convention. 

Quan trọng nhất là phải giữ niềm tin tuyệt đối rằng nước Mỹ, tổ quốc sẽ không bao giờ bỏ rơi bạn. Nếu ai đã coi phim “Saving private Ryan”, cứu binh nhì James Ryan thì biết. Phim này dựa trên cốt truyện có thật của một gia đình có 4 con trai đều đi lính trong thế chiến thứ II. Ba người anh lớn đều hy sinh ở chiến trường. Cấp chỉ huy quyết định sai đại úy John Miller (Tom Hanks thủ vai) dẫn một tiểu đội đi ra tiền tuyến trên đất Pháp, bằng mọi giá phải đem người con út trở về cho người mẹ góa đang cạn nước mắt vì mất con. Nhiệm vụ thành công, nhưng giá phải trả là nhiều chiến sĩ trong nhóm hy sinh tính mạng chỉ để cứu chỉ một anh binh nhì (1).

Trong cuộc chiến Việt Nam, tháng 11, 1970, một nhóm 56 biệt kích Mỹ nhảy toán vào đất địch bằng trực thăng để cứu 61 tù binh Mỹ trong một trại tù Sơn Tây miền Bắc (2). Sứ mệnh này thất bại vì tin tình báo sai. Quân cộng sản NVA (North Vietnam Army) đã kịp dời tù binh về Hỏa Lò, Hà Nội. Tuy nhiên, hành động này có tác dụng rất tốt khích lệ tinh thần binh sĩ. Mới đây, trong trận chiến dịch Desert Storm ở Iraq năm 2003, lực lượng đặc biệt Mỹ đã bất ngờ đột kích vào tận trong một bệnh viện địch, chỉ để cứu 1 người nữ chiến binh quân nhu tên Jessica Lynch (3). Còn nhiều nhiệm vụ giải cứu khác nữa được ghi trong quân sử, đủ nói lên tinh thần không bỏ đồng đội lại phía sau của quân đội Mỹ.

Sau phần khám sức khỏe rất gắt gao (physical test), nhiều người rớt, phải về nhà. Ai mang bệnh “3 cao” khó mà vượt qua nếu không có giấy chứng nhận (waiver) của bác sĩ. Phải có hình X-ray của răng để lỡ có “sa cơ trên chiến trường thọ tiễn”, hình hài không nguyên vẹn thì còn có thể nhận ra nhờ hàm răng. Mắt nếu đeo kiếng thì phải đem theo ít nhất 2 cặp. Tai phải nghe thật rõ và trình ra giấy khám hearing test mới nhất. Giấy chích ngừa phải đầy đủ theo sự yêu cầu của nước mà chúng tôi sắp đến.

Đến phần lý thuyết, phải qua kỳ thi online bằng computer, nếu đủ điểm, sẽ đến phần thực tập như bắn bia, tự thoát hiểm. Nói về bắn bia, tôi không biết tôi thuộc loại khác thường hay bất thường: Vào cuối tuần, bạn bè hay rủ nhau vào rừng bắn bia. Tôi luôn là chủ đề cười của cả nhóm vì nếu để 2 cái chai, tôi nhắm cái bên phải thì thế nào cũng trúng cái bên trái và ngược lại. Nói nôm na là tôi nhắm người này thì sẽ trúng người kia. Vậy mà khi huấn luyện, tôi bắn trúng 24/25 phát, trật có 1 viên. Chắc tôi thuộc loại bất thường. 

Tôi được trang bị đầy đủ “gear” như quần áo, giầy, mặt nạ chống hơi độc, chống phóng xạ; kể cả áo giáp, nón bảo vệ đầu loại LWH làm bằng vật liệu nhẹ kevlar chống đạn. Tất cả cân nặng khoảng gần 50 pounds trong 1 túi dết lớn có quai đeo vai (xắc Marin). Riêng áo giáp, chúng tôi được phát loại cũ dùng trong chiến tranh Việt Nam, cân nặng khoảng 30 pounds, cái nón nặng 3 pounds, trong khi những người lính được trang bị áo giáp loại 16 pounds, nhẹ hơn vì họ còn phải mang súng ống, đạn dược.

Tôi và 3 người nữa bước lên xe Humvee và cài dây an toàn (seatbelt). Phần này được tập luyện trong nhà (indoor facility) trang bị với hệ thống thủy lực (hydraulic system) để nâng xe và các xe cơ giới to lớn khác. Chiếc xe được cho lật úp, 4 bánh đưa lên trời, tất cả bị treo ngược đầu xuống đất. Mọi người trên xe phải tuân theo người trưởng toán,lần lượt từng người một, tự tháo dây an toàn và thoát hiểm sao cho không bị thương tích trong một thời gian nhanh nhất có thể. 

Nghe giải thích tưởng dễ, nhưng khi “đụng trận” mới biết đá biết vàng. Tôi không còn trẻ như các đồng nghiệp khác, khi khoác lên mình cái áo giáp nặng chịch, thêm cái nón bảo vệ. Khi xe lật úp, đầu tôi dộng xuống trần xe bằng thép tưởng có thể quẹo cổ. Thêm dây an toàn xiết chặt vào bụng và ngực làm tôi nghẹt thở và máu dồn xuống mặt. Cái khó là làm sao, trong khi ở tư thế đầu lộn ngược, mà vẫn có thể bình tĩnh ấn nút nhả khóa dây an toàn và cả thân hình rớt xuống với hai tay chống để không bị gãy cổ.

Nếu tôi không điều chỉnh nón an toàn vừa khít và chặt chẽ đủ, khi lộn ngược, nón sẽ văng ra và cái đầu sẽ đụng trần xe. Một là gãy cổ, hai là bị thương nơi đỉnh đầu vì cú va chạm. Cái nón lúc này thực là cứu tinh cho cái đầu trọc của tôi. Đọc và hiểu cặn kẽ những bài học lý thuyết là rất cần thiết cho phần thực hành. Nhiều người đồng nghiệp “thi rớt”, bị mời về, không được đóng dấu “passed” cho đi công tác. Hầu hết những người nặng ký, mập, hoặc vì huyết áp cao, hay chóng mặt đều không qua nổi giai đoạn này.

JF:
Những người lính đặc nhiệm như tôi thì bắt buộc phải được huấn luyện khóa S.E.R.E (4) ở cấp độ khó khăn hơn nhiều so với những người lính bình thường. Khóa học này kéo dài 19 ngày. Nhiều lần tôi tưởng phải bỏ cuộc vì phải trải qua những đau đớn về thể xác và căng thẳng về tinh thần của khóa huấn luyện kinh hoàng này. Chúng tôi học cách sống còn trong rừng rậm, trên sa mạc, cách làm bếp (Dakota hole) nấu nướng không có khói, cách tìm và làm chỗ ẩn nấp an toàn. Tất cả đều được huấn luyện trên thực địa của sa mạc nóng bỏng, bị rượt đuổi ngày đêm; nhiều lúc kiệt sức tưởng chừng có thể chết được. Một vài đồng đội té xỉu và nôn mửa đến mật xanh. 

Một đêm cuối tuần được xả trại đi chơi ở Las Vegas, đêm khuya lắm, chúng tôi trở về căn cứ huấn luyện ở Indian Springs, Nevada. Đoạn đường này vắng vẻ, chiếc xe van chở cả nhóm bất ngờ bị chặn đường bởi hai chiếc xe không biển số. Một toán người bịt mặt, võ trang với súng ống lăm lăm bao vây chúng tôi. Mọi người bị dí súng và trùm đầu bằng bao tải, bị đánh, bị quăng xuống đất, tay bị trói bằng dây nhựa (zip-locks) quặt ra sau lưng, và bị đưa đến một nơi không ai biết là đâu, và cũng không biết bọn bắt cóc này thuộc nhóm khủng bố nào.

Chúng tôi được dẫn xuống một nơi ẩm ướt, lội nước bì bõm đến gần đầu gối mà tôi đoán là một đường hầm. Sau đó chúng tội bị lột trần truồng, bị chế nhạo, bị chửi rủa bằng thứ tiếng Mỹ nặng âm sắc của người Ả Rập, bị làm nhục, bị dội nước lạnh, răng va vào nhau nghe lộp cộp, xen lẫn với những tiếng la hét, cười cợt bằng những ngôn ngữ rất lạ tai. Hành hạ chán chê, chúng tách riêng từng người, nhốt chúng tôi vào những xà lim tối tăm mà khẩu phần ăn chỉ vừa đủ để không phải chết đói. Có người bị đem đi trấn nước (water boarding), người thì bị mua chuộc, hứa hẹn khai ra bạn mình thì sẽ được chấm dứt cực hình ngay lập tức. Tôi nghĩ phen này chắc mình sẽ chết vì bọn khủng bố này.

Qua hai ngày bị thẩm vấn, ép cung, lẫn mua chuộc, thỉnh thoảng còn bị đấm đá, phải chịu đựng đói khát trong đêm đen, không biết ngày hay đêm. Một mình tôi một xà lim, thân thể suy nhược vì lạnh, thiếu ngủ, và bị khủng bố tinh thần, tôi không còn tỉnh táo, chỉ muốn khai hết cho được yên thân, thậm chí muốn chết đi cho khỏi phải chịu đựng cực hình. Nhưng nghĩ đến những bài học mới đây không bao lâu, tôi lại tự động viên và tự nhủ phải ráng lên, rồi sẽ được cứu vì mình đang còn ở trên đất Mỹ mà.

Trong sự tuyệt vọng ghê gớm đó, tiếng loảng xoảng của xích sắt xen lẫn tiếng bản lề rỉ sét của cánh cửa phòng giam mở ra, tôi bị bịt mắt và dẫn đi để tiếp tục bị tra khảo và lấy cung. Một bàn tay to lớn đè vai tôi ngồi xuống ghế, hai tay lại bị trói quặt sau lưng. Giọng nói quen thuộc nhưng dữ dằn cho tôi hay nếu không chịu khai, họ sẽ đem tôi đi bắn. Tôi hoảng sợ cực độ, trong một thoáng thật nhanh tôi tự nhủ không lẽ đời mình đến đây là hết? Tôi nghĩ đến người mẹ bạc lòng của tôi, người chị, và người anh mà bao năm nay tôi không hề thương nhớ, mấy thằng bạn vừa quen trong quân trường. 

Nhiều hình ảnh đến và đi trong lòng tôi như ánh chớp, lòng tôi chợt trống rỗng và nhẹ tênh. Tôi tự an ủi chết là cùng, mình chẳng còn ai thân thiết để yêu thương, chết đi tôi sẽ không còn biết khổ đau nữa. Đột nhiên một cảm giác rất bình an xâm chiếm tâm hồn tôi, tôi không thiết sống hay sợ hãi nữa. Tôi nhất định giữ im lặng. Tiếng lên đạn của một khẩu súng nghe sắc và lạnh, đồng thời giọng nói cất lên “đem nó đi”. Sắp đến lúc mình được giải thoát rồi, tôi thầm nghĩ, tuy trong lòng lẫn lộn một cảm xúc khó tả. Bàn tay thô bạo lại kéo lê tôi đi ngoằn ngoèo một lúc lâu rồi dừng lại.

Cũng bàn tay thô nhám đó đưa lên cởi khăn bịt mắt cho tôi. Trong bóng tối mờ ảo, tôi chưa kịp định thần mình đang ở đâu, thì một giọng nói vang lên bằng tiếng Mỹ rất chuẩn: “Congratulations, you’ve made it”, chúc mừng bạn vừa thành công. Đèn trong phòng bật sáng, viên trung sĩ huấn luyện ngồi ở bàn giấy, tiến tới vừa bắt tay tôi thật chặt vừa nói: “You’re one of us. Welcome aboard”, bạn là người của chúng tôi, chào mừng gia nhập nhóm. Rồi nhiều tiếng vỗ tay vang lên, nhìn quanh, tôi thấy vài huấn luyên viên khác và vài người bạn cùng nhóm bị bắt với tôi, họ đã ngồi ở đó tự bao giờ và đang tủm tỉm cười nhìn tôi với ly cà phê còn bốc khói trên tay.

Tôi như không tin vào mắt mình vì quá đột ngột, xúc động lẫn vui mừng. Giờ đây tôi đương nhiên vinh dự đứng vào hàng ngũ của những chiến sỹ hào hùng của lực lượng đặc biệt. Thì ra cuộc bắt cóc này được dàn dựng như thật, không ai trong chúng tôi được báo trước, ai cũng tưởng mình bị bắt cóc bởi một nhóm khủng bố thật sự. Họ theo dõi chúng tôi qua những máy quay phim dấu kín trên tường phòng giam. Mọi cử động của chúng tôi đều được họ ghi hình và phân tích, đề phòng trường hợp ai đó quá tuyệt vọng đưa đến tự sát. Lần lượt mọi người đều gặp nhau trong căn phòng giờ này đang đầy ắp tiếng cười, khói thuốc lá, và bánh trái ê hề.



Ngay hôm đó, một chuyên viên tâm lý đặc biệt phỏng vấn tất cả những người được chọn và cho chúng tôi một cơ hội chót là vẫn chưa muộn để có thể xin rút ra khỏi đơn vị và trở lại làm một người lính bình thường. Đương nhiên, không một ai trong chúng tôi xin rút lui vì đoạn đường chúng tôi đã đi quá xa để trở lại điểm đầu tiên. Kể lại chuyện này, tôi vẫn nghĩ, nếu phải làm lại từ đầu, tôi sẽ không bao giờ muốn điều này lập lại lần thứ hai. 


Tôi:

Sau 1 tuần lễ huấn luyện khá dễ dàng, chúng tôi được cấp giấy chứng nhận đủ điều kiện để vào “vùng lửa khói”. Chứng chỉ này chỉ hiệu lực trong vòng 1 năm. Năm sau, nếu đi nữa thì lại phải học và thi lại như học sinh mới. Tuy nhiên ai nấy đều thở phào nhẹ nhõm khi cầm được tờ giấy “ra trường”. Ngày mai chúng tôi sẽ đáp chuyến bay Mil-Air (Military Airlines) qua Châu Âu, dừng ở Đức lấy nhiên liệu xong, tiếp tục bay qua một căn cứ quân sự ở Trung Đông. Từ đó đổi qua các chuyến bay ngắn đến nơi làm việc bằng máy bay vận tải cơ C-17 hay C-5 Galaxy.


Chúng tôi, những nhân viên dân sự, ăn và ở cùng với những người lính để chia xẻ gian khổ với họ. Chúng tôi ở trong lều, nằm ngủ trên những ghế bố, ăn chung mâm với họ, đôi khi lương thực chưa đến kip, phải nhai lương khô là những bịch MRE (Meals-Ready-to-Eat). Nói chung, chúng tôi đồng cam cộng khổ với người lính để có thể hiểu được những ưu tư, cảm thông nỗi buồn xa vắng gia đình của họ. Đôi khi may mắn hơn, chúng tôi được ở trong những căn nhà tiền chế (pre-manufactured houses), hoặc ngủ trong những containers, thùng chứa hàng có gắn máy lạnh, nhưng không phải là “thùng nhân”.

Chuyến công tác đầu tiên, tôi suy nghĩ đơn giản lắm, tôi tự nhủ hồi ở Việt Nam, ngủ rừng, ngủ bụi, ngủ trên ghe, thuyền đâu có sao, mấy cái này nhằm nhòi chi. Những đêm đầu tiên, tôi không thể nào ngủ được vì cái nệm cứng quá, đau lưng không chịu nổi. Tôi quên rằng bao năm quen giường êm, nệm ấm ở Mỹ, tôi đã trở thành người Mỹ lúc nào không hay. 


Còn nhớ những ngày chặt củi Đước vùng duyên hải rừng Sác, tôi mới 18 tuổi. Ngày ăn cơm nguội với cá khô, mắm ruốc, làm việc như trâu bò; đêm ngủ trên chiếc ghe tròng chành, lắc lư. Một đêm, khi con nước lớn, tôi buộc mũi ghe vào một gốc cây Bần to lớn với cành lá xum xuê, và cắm cây sào tre vào phần lái để ghe khỏi bị xoay chiều, đoạn mắc giây mùng trên những cành cây. Xong việc giăng mùng, tôi “bắn” một bi thuốc lào thật say, chui vô mùng, ngả mình xuống sàn ghe ngủ như chết, không còn biết trời trăng mây nước gì cả. Trong giấc ngủ say, tôi vẫn biết tay tôi cứ đập muỗi và gãi liên tục; tôi mặc kệ, cố ngủ lấy sức mai còn vác củi. Gãi riết rồi chịu không nổi, phải bò dậy coi tại sao. Khốn khổ, cái mùng biến đâu mất. Nhìn lên trời, sao đêm lấp lánh, cái mùng treo lơ lửng tuốt trên cành cao. Hotel ngàn sao, trời ạ! 


Thì ra, khi nước ròng (nước xuống), chiếc ghe cũng hạ thấp theo chiều nước xuống. Đàn muỗi đói rừng Sác nổi tiếng không thua muỗi Cà Mau, tha hồ sơi tái mấy cái thân xác gầy gò của chúng tôi. Sáng hôm sau, mình mẩy đầy vết muỗi cắn, vậy mà đâu có bệnh hoạn gì, vẫn mạnh trùi trụi. Chỉ sau này, khi bị sốt rét rừng hành hạ thừa sống thiếu chết, tôi mới hay thiên đường xã hội chủ nghĩa là đây. Chưa hết, thuở đó lòng sông Soài Rạp, có những sáng thức giấc, nước ròng sát, tôi giật mình thấy những con cá sấu nằm hai bên bờ đang lim dim đôi mắt và ung dung tắm nắng mà nổi da gà. Chúng không muốn ai làm phiền và cũng không muốn làm phiền chúng tôi. Thế mới biết “lâu rồi, đời mình cũng quen”, không còn sợ hãi nữa. 


Trong những nhân viên dân sự, có một nghề tôi không thấy các sắc dân khác làm, ngoại trừ những người gốc Ả Rập nói được tiếng Farsi, nghề thông dịch viên. Đa số họ đến từ Anh (Britain), vài người từ Phi Châu, nhưng tôi chưa gặp một người Mỹ gốc Ả Rập nào làm nghề này. Tôi quen vài người trong bọn họ. Những người này hầu hết là thày giáo, hoặc kỹ sư tốt nghiệp các đại học ở Anh quốc. 


Người tôi quen thân là một kiến trúc sư gốc Afghanistan, đến Anh tỵ nạn khi còn trẻ. Anh cho biết anh xung phong làm thông dịch viên chiến trường vì nghề này được trả rất nhiều tiền. Sau khi đi vài năm, vợ con ở nhà, có thể mua nhà một cách dễ dàng. Nếu đi cỡ 10 năm, anh có thể về hưu non và không cần làm gì cả mà vẫn sống khỏe re vì nhà cửa trả xong, bảo hiểm sức khỏe ở Anh không tốn tiền. Vợ chồng, 4 đứa con có thể sống với welfare một cách thoải mái.


Nghề thông dịch rất nguy hiểm, không như chúng tôi luôn ở trong trại, họ phải đi sát theo quân đội ra trận, đi tuần tiễu, hoặc theo các toán biệt kích trong những chiến dịch gian khổ và nguy hiểm. Họ không mang súng, nhưng được trang bị tận răng như lính chiến thực thụ với áo giáp loại đặc biệt nhẹ. Họ khổ hơn chúng tôi nhiều. Một số trong bọn họ bị bắn tỉa và không bao giờ trở về nhà. Thỉnh thoảng tôi lại gặp họ ở những căn cứ khác nhau, hỏi thăm về người bạn cũ, họ cho biết nó chết rồi, ở mặt trận…Nghe sao mà buồn quá!


JF:

Đời lính chiến vào sinh ra tử, tôi được gởi đi đến nhiều vùng đất xa lạ, đi đến bất cứ nơi nào khi có lệnh trên, với những nhiệm vụ mà không ai có thể biết trước mình sẽ đi đâu và làm gì trước giờ hành động chỉ một thời gian ngắn. Những chiến dịch đã đi qua, như COIN (Counter Insurgency), tôi rất thích thú và hào hứng với những cuộc phiêu lưu cảm giác mạnh khi được xông pha, đột nhập vào những hang ổ bí mật (safe houses) để giải cứu con tin, bắt những tên thủ lãnh trói gô lại, vất lên máy bay. Càng tham gia nhiều chiến dịch, tôi càng say mê với những pha vào sinh ra tử nhưng vui vì chiến công ngày càng nhiều.


Rồi biến cố tháp đôi World Trade Center, ngày 11 tháng 9 năm 2001 xảy ra khi tôi đang còn mãi bôn ba khắp mọi miền đất xa xôi ở Trung Đông. Lòng yêu nước lẫn căm thù những tên khủng bố hèn hạ đã thắp lên trong lòng tôi một ngọn lửa mới, thúc dục tôi chiến đấu thêm hăng say. Chúng tôi được triệu tập khẩn cấp và nhận nhiều nhiệm vụ hơn. Với một nhóm khoảng 10-12 người và chó quân khuyển, chúng tôi được không vận đến gần địa điểm bằng trực thăng đặc biệt bay rất sát mặt đất để tránh radar. Nhảy khỏi trực thăng, rồi di hành im lặng trong đêm đen, bao vây sào huyệt của bọn giặc, bất ngờ phá cửa vào để bắt trọn những tên có trong danh sách đen (HTV) trong ngôi nhà đó, nếu có chống trả, thì tiêu diệt.


Tấn công bất ngờ, hành động gọn gàng, rút lui nhanh chóng. Đó là châm ngôn của chúng tôi. Trước khi rút lui ra địa điểm tập hợp an toàn để trực thăng bốc ra khỏi vùng nguy hiểm, chúng tôi cài lại những con bọ điện tử và những cameras nhỏ xíu trong nhà mà mắt thường không thể nhận ra, trước khi kẻ thù trở lại với nhiều đồng bọn và vũ khí. Nhiệm vụ ngày càng nhiều hơn khiến tôi như trôi đi với những ngày đêm hành quân miệt mài. Mỗi lần xong một nhiệm vụ, tôi thấy hài lòng hơn với những gì mình đang đóng góp cho tổ quốc; đồng thời tôi cũng bắt đầu cảm thấy những thay đổi, suy tư trái ngược trong tôi. Nhiều chuyện làm tôi hoang mang, chùn tay, và nó bắt đầu ám ảnh tôi thời gian sau này. 


Nhiều năm trôi qua, nhiều chiến dịch nguy hiểm với cái chết cận kề, tôi chưa bao giờ biết sợ. Lòng yêu nước và những hình ảnh nạn nhân tòa tháp đôi vẫn còn đậm nét trong tôi, là động lực giúp tôi thêm can đảm. Nhưng đôi lần, sau những trận đột kích chớp nhoáng, chứng kiến những cảnh tượng đau lòng, tôi bắt đầu tự hỏi tôi đang làm gì? Và tại sao cần thiết phải làm như vậy? Có chính nghĩa hay không khi phải giết tất cả những người có mặt trong những sào huyệt đó? 


Một hôm, trong một chuyến công tác, chúng tôi cố hoàn thành công việc thật nhanh rồi rút lui, nhưng không kịp nữa rồi. Trên con đường rút lui độc đạo, một bên là vách núi, một bên là giòng suối. Chúng tôi rơi vào bẫy phục kích của địch. Cả ngôi làng bên kia bờ nước, chúng tấn công chúng tôi bằng hàng loạt đạn nổ vang rền. Một đồng đội ngã xuống vì bị bắn tỉa. Chúng tôi nằm rạp xuống sau những tảng đá ven bờ suối chống trả kịch liệt trong khi xin tiếp viện. Chúng tôi nằm chịu trận, không ngóc đầu lên nổi, và chờ vòng vây ngày càng xiết chặt.


Thêm vài đồng đội bị thương nặng khi cố gắng mở đường máu. Bất chợt, chúng tôi nghe rõ tiếng nhiều chiếc trực thăng Apache và Black Hawks bay đến cứu viện. Những tiếng nổ và cột lửa bốc lên cao. Cả ngôi làng chìm trong biển lửa. Chúng tôi mở đường chạy đến địa điểm an toàn, mang theo những đồng đội tử thương. Cuối cùng chúng tôi cũng về đến căn cứ trong bộ đồ chiến dơ bẩn dính đầy bụi và máu của bạn bè và của chính chúng tôi.


Tôi:

Tôi im lặng nghe JF kể chi tiết về những vụ đột kích, lùng kiếm và tiêu diệt địch trong những sào huyệt (strongholds), đôi khi phải phá hủy toàn bộ ngôi nhà mà không cần biết những ai đang ở trong đó, vì không giết thì mình sẽ bị giết khi chúng bắn trả; về những việc phải làm để xác nhận ID (identity) của tên khủng bố cần bắt sống, nhưng không thể đem xác chết của hắn theo khi rút lui. Tôi không dám kể hết ra đây vì nó quá sức tưởng tượng của tôi và của bạn, và vì nó tàn nhẫn quá. 


Ai cũng nghĩ là lính thì hiếu chiến, khi ra trận bắn giết không đắn đo, không suy nghĩ; thực ra người lính là những người luôn mong muốn hòa bình. Họ là những người hay cầu nguyện nhiều hơn ai hết. Họ cầu nguyện vì họ biết họ sắp sửa đi vào chỗ chết. Họ là những người đi vào cuộc chiến, cả tinh thần lẫn thể xác. Bản thân tôi, trước khi đi, tôi cũng thường cầu nguyện cho được trở về an toàn. Bọn chúng vẫn hay bắn và pháo kích vào nơi chúng tôi ở, có khi vài lần trong 1 tuần. Có những đêm nằm dưới gầm giường tránh đạn, tôi nhớ đến Khánh Ly với bài hát “đại bác đêm đêm dội về thành phố…” của những năm xa xưa lắm trên quê hương tôi.


Tôi hay nói với JF chúng ta có thể thắng cuộc chiến, nhưng thua mất sự bình an trong tâm hồn, (we may have won the war, but lost the peace); nếu mình muốn hòa bình, thì phải chuẩn bị chiến tranh thôi (Si vis pacem, para bellum= If you want peace, prepare for war). Chiến thắng nào cũng có cái giá phải trả của nó. Tôi hy vọng điều này giúp anh ta đỡ ray rức, bớt tự dằn vặt và cũng là tự an ủi chính tôi. 


JK:

Một buổi lễ truy điệu những đồng đội hy sinh trong sứ mệnh vừa qua trong căn cứ chúng tôi đóng quân. Giữa sân trại, một lá cờ tổ quốc được giăng tạm phía sau chiếc Humvee. Hai bên là những bao cát nhỏ với đôi giày trận, cây súng chống ngược xuống, trên đó là cái nón sắt (helmet) và 1 giây thẻ bài (dog tag) với số quân và nhóm máu. Viên chỉ huy nói vài lời vinh danh và vĩnh biệt những đứa con yêu của tổ quốc. Người tuyên úy quân đội cầu nguyện và cử hành nghi lễ. Chúng tôi, từng người, tiến lên thì thầm lời chia tay với bạn mình. Không khí nghiêm trang, thinh lặng, buồn thảm mà uy nghi.

Thằng bạn tôi, mới hôm qua còn vui đùa với tôi mà nay đã không còn nữa. Chúng tôi khiêng nó lên được trực thăng medivac (cứu thương) để trở lại căn cứ. Trong hơi thở thều thào, nó hỏi tôi sao ngón tay tao lạnh quá. Một hồi sau, nó lại nói ngón chân và bàn chân tao sao lạnh quá, rồi nó chìm trong hôn mê chỉ trong vòng 20 phút sau đó và không bao giờ thức dậy nữa vì vết thương TBI (traumatic brain injury) quá nặng ở đầu. Nước mắt tôi thầm lặng rơi. Cái chết của nó để lại một dấu ấn không quên trong lòng tôi.

Tôi:
Tôi cũng hay tự hỏi rằng những người chiến đấu ngoài mặt trận phải trực diện với cái sống và cái chết; còn những người chiến đấu không trực tiếp như người lính điều khiển máy bay không người lái, mang hỏa tiễn đi tiêu diệt những mục tiêu đã được quan sát và theo dõi kỹ lưỡng thì sao? Ngoài mặt trận, người lính trực tiếp lẩy cò súng; người điều khiển UAV, sau khi ấn nút, qua màn hình chỉ thấy những bóng người mờ mờ bị tung lên cao, lương tâm của ai đỡ cắn rứt hơn ai?

Vẫn biết chiến tranh lúc nào cũng đi đôi với chết chóc và tàn phá, nhưng trong tôi, trong tận cùng trái tim của JF, vẫn còn những thổn thức của một con người. Trong những sào huyệt, những căn nhà mà trong đó có cả gia đình của những tên khủng bố nguy hiểm, còn có đàn bà và trẻ em. Tôi kể JF nghe về trận thảm sát ở Mỹ Lai (6) trong cuộc chiến Việt Nam để anh ta có thể so sánh với những gì xảy ra trong cuộc chiến hiện nay. Mỗi lần đọc lại biến cố này, tôi vẫn còn khóc cho quê hương tôi. Cả hai, cộng sản và khủng bố giống nhau, họ nghiên cứu kỹ càng và xử dụng thường dân vô tội làm bia đỡ đạn cho chúng. Tôi luôn tự hỏi tất cả chúng ta, những con người không phân biệt chính kiến, đôi khi làm điều tệ hại vì những lý do cao cả hơn? (we are sometimes doing bad things for good reasons). 

Trong phi trường chúng tôi ở và đóng quân, vẫn còn một chiếc vận tải cơ Antonov của Nga Sô còn bay được, những tòa nhà của bọn Taliban đóng quân, vẫn còn y nguyên những dấu tích, những chữ viết trên tường của bọn chúng. Tôi bước vào một ngôi nhà thờ Coptic Orthodox Church bị tàn phá bởi bọn cuồng tín này. Chúng bắn vỡ những tượng thánh, đào mả những linh mục, thậm chí dùng đục để phá đi những giòng chữ tạc vào cây thập tự giá được viết bằng ngôn ngữ Aramaic (7) là thứ ngôn ngữ mà Chúa Giê Su từng dùng để giảng dạy ngày xưa. 

Bọn này ẩn nấp trong những nhà thờ, nhà thường dân vì chúng biết khi quân đồng minh tấn công, họ sẽ không dám bắn vào những nơi thờ tự cho đến khi chắn chắn là không có thường dân hoặc tu sĩ trong đó (luật chiến đấu “rules of engagement”). Nhưng trong chiến tranh, vẫn có sự nhầm lẫn dẫn đến chết chóc cho thường dân. Vì thế, trực tiếp hay không trực tiếp cầm súng bắn vào mục tiêu vẫn là câu hỏi của lương tâm và câu trả lời rất là gây tranh cãi tùy theo tâm trạng và hoàn cảnh của người lính.

JF:
Ngày tôi trở về nhà, tâm thần tôi bất ổn. Cuộc sống không còn được như ngày trước khi tôi lên đường. Vợ con xa lánh tôi. Vợ tôi không chịu nổi tánh khí bất thường của tôi, nàng không hiểu tôi và bỏ đi lấy chồng khác. Tôi không buồn nhưng cũng không trách gì cô ấy. Tôi bị xâu xé ra từng mảnh bởi những cảm giác tương phản nhau, khi thì cảm thấy tội lỗi, khi thì tự hào, rồi tôi buông xuôi. Tôi uống rượu nhiều, hút cần sa, và không muốn giao tiếp với bất kỳ ai. Tôi đóng cửa tâm hồn tôi thật chặt.

Họ bắt buộc tôi phải tham gia những lớp học cố vấn tâm lý, làm cách nào hội nhập với đời sống dân sự. Họ luôn hỏi tôi những câu làm tôi bực mình như: “Anh có ý định tự hành hạ bản thân anh không?”. “Anh có ý làm thương tổn người khác không?”. “Tại sao anh không thể sống bình thường như trước?” v…v... Quá nhiều câu hỏi làm tôi mệt nhoài và bực tức. Tôi muốn hét lên tại tụi bay không từng đi qua những đoạn đường tao đã qua, nên tụi bay không thể hiểu nổi đâu. Tôi phải uống cả một nắm thuốc mỗi ngày, thân xác tôi bồng bềnh, linh hồn tôi phiêu du, tôi chẳng màng đến bất cứ một điều gì, tôi càng tự cô lập tôi ra khỏi xã hội. Tuy nhiên, tôi chỉ chọn thái độ im lặng, nhẫn nhục cho đến khi tôi gặp nàng.

Nàng là nữ y tá trong bệnh viện VA của cựu chiến binh (Veteran Affairs) và làm việc trong khu counseling (cố vấn tâm lý). Nàng đến với tôi dịu dàng như một thiên thần với mái tóc huyền dài chấm lưng và một nụ cười tươi mát với đôi má lúm đồng tiền thật sâu. Nàng kiên nhẫn nghe tôi kể chuyện và trút nỗi lòng. Nàng không bao giờ hỏi tôi những câu hỏi bài bản nghề nghiệp vẫn thường làm tôi nổi nóng. Nàng khéo léo, nhẹ nhàng, và dần dần đưa tôi trở lại với chính tôi của những ngày trước. Tôi bớt uống rượu và bỏ hẳn hút sách. Tôi dần lấy lại niềm tin, và bước ra khỏi vỏ bọc của sự trầm cảm. Nàng là tất cả đối với tôi, tôi đã yêu nàng từ những phút đầu khi vừa thấy nàng với chiếc áo blouson trắng.

Tôi:
Sau chuyến công tác, JF và tôi về lại Mỹ cùng ngày trên chuyến bay Philippine Airlines đáp xuống phi trường Narita, Nhật Bản. Sau khi qua hải quan và lấy hành lý xong, chúng tôi còn đang ngó quanh, thì một phụ nữ trẻ người Nam Mỹ, với làn da nâu và mái tóc dài đen nhánh bước vội về hướng chúng tôi, vẻ mặt rạng ngời hạnh phúc. Tôi chợt thấy trên khuôn mặt không quen đó, một nụ cười tươi với đôi má lúm đồng tiền thật sâu mà anh bạn đồng hành đã kể trước đây. Họ lao vào nhau, quấn quýt với nụ hôn tưởng như không muốn dứt. 

Anh bạn tôi đã mua vé cho nàng bay từ Mỹ đến Narita để gặp nhau. Hai người sẽ cùng bay qua Bali, Indonesia để cùng nhau tận hưởng những giây phút bên nhau sau một thời gian dài xa vắng. Sau đó, đôi uyên ương sẽ bay về Mỹ, nơi căn nhà nhỏ xinh đẹp đang chờ đợi họ. Chúng tôi cùng đón taxi về khách sạn. Ngày hôm sau tôi bay về Mỹ, họ còn ở lại Narita vài hôm, rồi sẽ bay qua Jakarta,Indonesia.

Người lính chiến đấu không phải vì tiền tuyến phía trước mà vì hậu phương phía sau anh ta, vì sự thanh bình yên vui cho những người thân yêu và cho tổ quốc của mình. Chỉ có tình yêu thương, sự thông cảm sâu sắc từ người mình yêu, gia đình, bạn bè, hàng xóm, đất nước, và con người mà người lính đã chiến đấu cho họ và vì họ, mới có thể dìu dắt một tâm hồn tan nát, đầy vết thương của người lính trở lại cuộc sống bình thường.

“There is no greater love than this – That a man should lay down his life for his friends” (John 15:13) Không tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người chết cho những người mình yêu. Xin mọi người đừng nhìn người lính với những tia nhìn nghi ngại và kỳ thị, mà hãy giang rộng vòng tay đón họ trở về trong yêu thương và an ủi, vì trên thân thể anh là những vết thương có thể lành được, nhưng hơn hết là những vết thương trong lòng cần có thời gian để khép miệng lại trong vòng tay của mọi người.

Nguyễn Văn Tới. 2019.

REFERENCES:

1. https://en.wikipedia.org/wiki/Saving_Private_Ryan

2. https://en.wikipedia.org/wiki/U.S._prisoners_of_war_during_the_Vietnam_War

3. https://en.m.wikipedia.org/wiki/Jessica_Lynch

4. https://en.wikipedia.org/wiki/Survival,_Evasion,_Resistance_and_Escape

5. https://en.wikipedia.org/wiki/Si_vis_pacem,_para_bellum

6. https://www.history.com/topics/vietnam-war/my-lai-massacre-1

7. https://www.britannica.com/topic/Aramaic-language

Tuesday, May 31, 2022

HOÀI NIỆM TUỔI THƠ - chuyện "cáp đôi"


 CHUYỆN "CÁP ĐÔI"

   Cầu Đôi nằm cạnh Tháp Đôi

Người ta có cặp, riêng tôi một mình

mnc 



Bỗng dưng lại nhớ chuyện "cáp đôi"

Ngây thơ bọn trẻ ở xóm tôi

Hết trò chơi lại bày chuyện "cáp"

Xưa như trái đất đã lâu rồi


Bởi chúng vẫn thường chơi với nhau 

Tỷ như con Bích với thằng Cầu

Hay con Liên với thằng Minh chuột

Ngây thơ bọn chúng biết gì đâu 


Vẫn thản nhiên chơi bên hàng xóm 

Chẳng ngờ mình sắp bị lêu lêu 

Lớn nhỏ chạy quanh như đám rước

Nối đuôi theo gót đứa đầu têu


Miệng la chói lói "Liên-Minh chuột"

Rồi cứ "Bích-Cầu" với " Bích-Câu"

Cái con bị "cáp" ngồi tức khóc

Thằng bạn chạy theo chửi lầu bầu 


Ngày ấy tôi chơi với nhỏ Trang

Nhà nó nhà tôi cũng người làng

Nó vẫn rủ tôi chơi "đánh đũa"

Cùng vài đứa nữa "bán đồ hàng"


Những ngày mưa bão ngồi bó cẳng 

Chơi cùng con gái cũng điệu đàng 

Tôi thấy tôi giờ hiền quá cỡ

Vì Trang muốn tôi chơi với Trang


Nhưng rồi cũng cái đám "trời ơi"

Vắng tôi chúng nó đã đánh hơi 

Và chúng lại bày mưu phá bĩnh

Là "cáp đôi" Trang vào với tôi 


Cứ thấy bọn tôi chúng la làng 

Nào là Cường-Tráng với Cường-Trang

Chúng có ngờ đâu tôi "có võ"

Rượt theo chơi một ngón "sang ngang" 


Vào ngay ống quyển thằng "đầu đảng"

Thế là bọn chúng phải tan hàng 

( Nhưng sao tôi khoái nghe chúng "cáp"

"Cường-Trang; Cường-Tráng với Cường-Trang" )


Chuyện "cáp đôi" ngày xưa thơ ấu 

Chẳng bao giờ được mộng thành đôi

Chiến tranh... thời cuộc ...chia ly ấy

Là ký ức đời ! kỷ niệm thôi 


Chuyện xưa ngày cũ biết tìm đâu

Bao nhiêu con nước đã qua cầu 

Làm sao tìm lại dòng sông cũ 

Soi lại bóng nhau lúc bạc đầu


Cao Ngọc Cường 

24/9/2017


HOÀI NIỆM TUỔI THƠ


   Ngoảnh lại một thời tuổi thơ qua 


Lòng vẫn nhớ hoài một thuở xưa

Khi còn là chú bé húi "cua"

Ngày hai buổi đến trường vui học 

Đi về còn đánh một giấc trưa 


Trốn mẹ trèo lên tàng trứng cá 

Dăm tên như lũ khỉ trên cây 

Bẻ trái chín giành ăn chí choé

Dường như quên mất cái roi mây


Xóm nhà đối diện với Nhà Thương 

Có trưa léng phéng chạy qua đường

Chun rào "khám phá" khu bệnh viện 

Có chi mà kín cổng cao tường  


Đường ngang ngõ dọc đi dễ lạc 

Một màu trắng toát đến là buồn 

Có lần vào lộn khu nhà xác

Sợ ma mấy đứa chạy hết hồn 


Lắm bữa mẹ canh kỹ quá đi

Nằm ngồi cũng chán biết làm gì 

Lẻn xuống sau hè coi trẻ gái

Chơi đánh giải gianh oản tù tì


Trò chơi con gái quá sức buồn 

Thế mà chúng rủ ... cũng chơi luôn 

Ngồi xuống là thua đôi ba bận

Quen rồi tay đánh đũa khá suôn


Chơi với dân "kẹp tóc" cũng hay

Quẩn sang hàng xóm chỉ quanh đây 

Thằng con của mẹ sao ngoan thế 

Mẹ khỏi phải la khỏi phải rầy 


Ai nhớ ai quên ai khơi lại

Chuyện dân kẹp tóc với húi cua

Nhịp bước thời gian ơi mềm mại

Và theo cơn gió đổi thay mùa


Cứ thế ngày qua ngày như thế

Kỷ niệm ngày xưa ngỡ nhạt nhoà

Ai vừa khơi ấm tro mùa cũ

Ngoảnh lại một thời tuổi thơ qua 


Cao Ngọc Cường 




NHỮNG TRÒ CHƠI CỦA NGÀY XƯA : THIÊN ĐÀNG ĐỊA NGỤC

 



 Những trò chơi trẻ con thời của chúng tôi, của chúng ta đã trôi vào quên lãng. Đã hơn nửa thế kỷ trôi qua như là cổ tích ngày xửa ngày xưa ....

Ngồi ghi lại một trò chơi chung cửa cả hai phe, trên cái sân nhà cũ sót lại từ thời tiêu thổ cạnh nhà tôi hay bên xóm đạo Hoà Ninh.

Hai đứa lớn đứng hai bên nắm vòng tay lên cao khỏi đầu như cái cổng cả bọn get line hàng một đi qua, vừa đi vừa hát bài đồng dao 


"Thiên đàng Địa ngục hai bên. 

Ai khôn thì lại ai dại thì khôn

Đêm nằm nhớ Chúa nhớ Cha. 

Đọc kinh cầu nguyện kẻo sa linh hồn. 

Linh hồn phải giữ linh hồn 

Đến khi gần chết được lên thiên đàng "

 Đứa nào cũng sợ bị cánh cổng thiên đàng hạ xuống khi hát dứt bài mà mình còn ở lại, thế là phải tiếp tục đi  cho tiếp một cuộn nữa cho đến đứa cuối cùng 

Nhưng rốt cuộc, hát mỏi miệng, tất cả bọn đều được lên thiên đàng, chẳng có đứa nào phải sa hỏa ngục .... sướng thì thôi 

Cho đến bây giờ, sớm hay muộn, lũ chúng ta rồi cũng sẽ được " lên thiên đàng " 😊😧

Khơi lại âm vang một thời tuổi nhỏ của chúng ta ! Ai nhớ ai quên trò chơi tuổi nhỏ ngày xưa 



THIÊN ĐÀNG ĐỊA NGỤC HAI BÊN 

Thiên đàng địa ngục hai bên

Ai khôn ai dại... khó quên một thời

Ngây thơ ngày ấy đùa chơi

Một đàn trẻ, những đêm trời sáng trăng 

Chán trò dung dẻ dung giăng 

Đổi qua địa ngục thiên đàng cùng chơi

Một đàn con nít con nôi

Nối đuôi đến  trước cổng Trời hát lên 

"Thiên đàng địa ngục hai bên..."

Ai khôn ai dại cũng lên cửa trời 

Đồng dao có bấy nhiêu lời 

Hát đi hát lại mãi thời khó quên

Thiên đàng địa ngục hai bên 

Biết đâu mà chọn để lên thiên đàng 

Cổng trời đã hạ thanh ngang 

Biết còn đâu chốn thiên đàng mà lên

Thiên đàng địa ngục hai bên

Giờ anh cũng chẳng biết lên bên nào

Nghe lời em nói ngọt ngào

Ngẩn ngơ anh biết làm sao trả lời

Thiên đàng địa ngục hai nơi

Bây giờ anh biết ... thì thôi lỡ làng

Muốn lên rồng rắn xếp hàng

Đi tìm một chốn thiên đàng tuổi thơ 

Trò chơi ngày cũ xa mờ 

Mù trong ký lức thẫn thờ nhớ quên 

Thiên đàng địa ngục hai bên 

Đến giờ cũng chẳng biết lên bên nào 

Giá như mà biết ước  ao

Thì anh xin chọn nơi nào có em

Năm rơi tháng rụng dày thêm 

Những tầng kỷ niệm êm đềm ngày xưa

Thuyền trôi dòng rẽ còn lưa

Còn vang vọng những âm xưa êm đềm 

Thiên đàng địa ngục hai bên

Bây giờ anh biết tìm em nơi nào


10/10/17

EM, MÙA CŨ

 Ngày xưa .... xa quá người ơi! 

Có ai còn nhớ trò chơi 5.....10

Những trò chơi của ngày xưa

( Bây giờ còn nhớ hay không ...?)



EM, MÙA CŨ 


Năm..mười...mười lăm...hai mươi...

Ngày xưa , trốn bắt đùa chơi quanh nhà

Con trăng sáng biếc mặn mà

Hồn nhiên cút bắt - Ú òa, ú tim

Trò chơi đi trốn đi tìm

Năm... mười... một lũ như chim tan bầy

Oẳn tù tì ra cái này,

Anh thua, anh phải bị quay vào tường

Em cười trông thật dễ thương:

-Cái mặt nghi quá dễ thường ăn gian

-Thôi đi, anh rất là ngoan

Năm... mười... đếm đủ một trăm đây này

Úp mặt trong hai bàn tay

Anh che mắt thấy áo bay qua người

Năm...mười...mười lăm...hai mươi...

Hồn nhiên em thả tiếng cười sau lưng

Anh giả đò chạy lung tung

Để nghe thấy tiếng em mừng rỡ la

Năm...mười...mười một...mười ba...

-Lêu lêu! tìm mãi không ra,thua hoài

Năm...mười...mười sáu...hăm hai...

Anh che mắt thấy em ngoài gốc cây

Vờ tìm anh chạy đó đây

Em bên Đông, cứ bên Tây anh tìm

Để nghe rộn rã tiếng chim

- Lêu lêu! Anh cứ ú tim thua hoài

Che tay, giả bộ thở dài

Để nghe khúc khích tiếng ai đang cười

Năm...mười...mười lăm...hai mươi...

Anh che mắt đếm: năm ... mười... mười lăm

"Con trăng sáng suốt đêm rằm

Bay qua một sợi tơ tằm nhớ ai"

Ngây thơ em cứ lêu hoài

Anh tìm em mãi... đông đoài, em ơi

"Năm...mười...mười lăm...hai mươi...

Có người xanh tóc yêu người tóc xanh"

Ú tim, trốn chạy vòng quanh

Mười lăm...mười bảy...

Cũng đành xa nhau

Bao nhiêu lượng nước qua cầu

Con trăng vẫn sáng một mầu xanh xưa

Cuộc đời đã nát gió mưa

Tìm em, tôi vẫn tìm chưa ra người

"Năm, mười, mười lăm, hai mươi..."

Có chàng tóc trắng nhớ người tóc xanh.


Cao Ngọc Cường 

* NƠI CÓ NHỮNG CÂY TÙNG XANH BIẾC



Đây là câu chuyện tình có thật và rất đẹp được thi vị hoá, khi hoàng thân Cường Để  phải sống lưu vong hơn 40 năm tại hải ngoại mưu đồ phục quốc từ tay người Pháp, được thi vị hoá.

Năm 1951, Cường Để từ trần vì bệnh ung thư gan tại Đông Kinh, hưỏng thọ 69 tuổi. Sau nầy, một phần di cốt chôn trong mộ phần Đông du học sinh Trần Đông Phong ở nghĩa trang Zoshigaya bên Nhật. Một phần được hai con Tráng Liệt, Tráng Cử (sau bà vợ đầu Lê Thị Trân sinh cho ông thêm hai người con khác là Tôn Nữ Thị Hảo và Tráng Đinh, ông còn có bà vợ Ando Shigeyuki người Nhật) qua Nhật rước về Tây Ninh rồi đưa ra Huế,ở đấy được Tổng Thống Ngô Đình Diệm tổ chức đón nhận trọng thể.Lần lượt thờ ở nhà con trưởng Tráng Liệt, chùa Kim Quang, lăng mộ cụ Phan Bội Châu, ngày nay tro cốt được mai táng trên một ngọn đồi ở xã Thủy An.


 NƠI CÓ NHỮNG CÂY TÙNG XANH BIẾC

Ando Chie cúi xuống, nhúng ngón tay vào chậu nước. Nước ấm vừa đủ tắm. Nàng kéo màn che cửa sổ. Ngoài kia, một cây anh đào vừa nở, những nhành hoa rủ xuống trắng hồng. 

- Xin ngài vào tắm kẻo nước nguội. 

Giọng nàng nhỏ nhẹ và lễ phép. 


Ngoài ba mươi tuổi, Chie mạnh khỏe và bầu bĩnh trong bộ kimono giản dị màu lam. Là người giúp việc cho hoàng thân Cường Để, cô đến ở đây đã hai năm theo sự bố trí của đại tá Wanatabe. 

Năm ấy hoàng thân đã ngoài năm mươi tuổi, dáng vóc nho nhã nhưng khuôn mặt gầy đượm buồn. Ông chăm chú viết, những chữ Nho chân phương rất đẹp trên giấy trắng. 

Thấy Chie, ông ngẩng lên, vẻ mặt ngần ngừ: 

- Lại tắm. Ta mới tắm hôm kia... 

Chie mỉm cười. Ông hoàng Việt Nam này rất lười tắm gội. Người Nhật vốn rất sạch sẽ. Bao giờ cũng thế, Chie rất cương quyết với ông. 

Chie đến gần, đặt tay lên nút áo ông. Chiếc áo năm thân màu nguyệt bạch với rất nhiều khuy vải. Ở Nhật đã hai mươi năm, ông vẫn mặc áo Việt. Những chiếc áo ông đem theo từ Việt Nam đã cũ nát từ lâu, chiếc áo này là do Chie phỏng theo áo cũ để may cho ông, kiểu áo Việt trên nền lụa Nhật. 


Nhưng hôm nay, ông hoàng dường như trái tính hơn mọi ngày. Ông chùn lại, xua tay, ánh mắt đầy nghi kỵ: 

- Để ta yên! 

Từ lúc Chie mới đến đây, ông vốn đã không tin nàng. Ông không cho nàng sắp xếp thư từ giấy tờ trên bàn ông, dù chúng thường rất lộn xộn. Mỗi lần đau ốm, ông cố giấu không cho nàng săn sóc. 

Chie là người do quân đội Nhật cử đến. Ông nghi kỵ nàng nhưng không thể từ khước nàng. Ông khư khư không cho nàng chạm tới đống thư từ, nhưng lại quá cần nàng thu dọn giường nằm bề bộn, pha cho ấm trà buổi sáng, khâu lại áo xống, cả ánh mắt cương quyết của nàng mỗi lần bắt ông đi tắm... 

Nhưng hôm nay nhìn vẻ mặt ông, Chie lẳng lặng không nài ép gì nữa. Nàng quay ra một lúc rồi trở vào với khay trà. Nàng đã quen, những lúc căng thẳng thế này chỉ có một ấm trà Tàu mới có thể làm ông dịu lại. 

Bước qua ngạch cửa, nàng khựng lại. Kỳ ngoại hầu Cường Để, hoàng đích tôn đời thứ năm của vua Gia Long đang bưng mặt khóc. 

Ando Chie vội vã đặt khay xuống án thư, chạy đến đỡ lấy mái tóc chớm bạc đang rũ rượi gục về phía trước. Tấm thân gầy mỏng của người đàn ông như muốn sụp xuống trong tay nàng. 

- Điện hạ... hoàng tử... 

Chie cứ nghĩ ông sẽ đẩy nàng ra. Nhưng lần này Cường Để chỉ ngẩng lên, mắt nhìn sững vào khoảng không trước mặt. Nàng nhẹ nhàng chặm những giọt nước ứa ra quanh đôi mắt thất thần. "Có chuyện gì...?". 

Cường Để không kiềm chế được, khóc nấc lên: "Bác Phan mất rồi!". 

Tại Tokyo một buổi chiều tháng tư, Cường Để nhận được thư báo. Phan Bội Châu, người đã tìm đến ông khi ông mới hai mươi mốt tuổi, đã tôn ông làm minh chủ của phong trào Đông du chống Pháp. Người đã đón ông sang Nhật để tính chuyện phục quốc lâu dài. Việc Phan Bội Châu bị bắt ở Thượng Hải đã là một đòn quá mạnh đối với ông. Từ ngày ấy, ông không thôi cảm thấy lạc lõng, hoang mang; cảm giác thối chí thỉnh thoảng lại ám ảnh ông, ông phải hết sức chống lại. 


Bây giờ Phan Bội Châu đã mất. Hơn ba mươi năm lưu vong trên đất Nhật, bao nhiêu ý chí, nghị lực của ông dường như được truyền từ sức mạnh tinh thần của con người này. Vậy mà giờ đây người ấy không còn nữa. Số phận đã bỏ rơi ông giữa một thế giới mênh mông xa lạ, trong cảnh tiến thoái lưỡng nan. 

Không phải là chuyện có thể chia sẻ với Ando Chie, nhưng biết nói cùng ai ở nơi lữ thứ này. Phong trào Đông du đã tan rã, Trần Đông Phong đã tự vẫn, Tăng Bạt Hổ, Nguyễn Siêu đã trốn đi, chỉ còn mình ông trơ trọi giữa trời cùng đất tuyệt. 

Chie cố gắng an ủi ông, dù không biết người chết là ai. Nàng dìu ông vào giường, đắp chăn, buông màn cho ông. 

"Để mặc ta" - Cường Để nói, xua tay, quay mặt vào góc tối. 

Chie gật đầu, nàng ém màn vào dưới nệm, bước lùi mấy bước. 

"Chie, đừng đi!". 

Ông ta bíu lấy tay nàng. Chie cảm thấy tất cả nỗi cô đơn, hoảng loạn của người đàn ông. Nàng cúi xuống, lồng tay vào chăn, ôm lấy ông vỗ về, bất giác nàng cũng rơi nước mắt. 

"Thiếp thương điện hạ lắm". Chie nói, những tiếng rất giản dị, nàng biết rõ Cường Để không giỏi tiếng Nhật, và nàng cũng không biết lời an ủi nào hơn. Nhưng linh cảm dạy cho nàng biết phải làm gì: nàng ghé nằm bên ông và ấp ủ ông bằng thân thể ấm áp của mình. 


*** 

Đêm ấy trời mưa, khi trời sáng Chie cuốn màn, mở hé cửa sổ, nàng nhìn thấy những cành anh đào sũng nước. Nàng đặt chậu nước nóng cạnh giường, nhúng chiếc khăn bông trắng muốt rồi vắt thật ráo. Người đàn ông của nàng đã tỉnh giấc. Nàng cúi xuống, mỉm cười dịu dàng, lau mặt cho ông. 

Kỳ ngoại hầu nắm lấy tay nàng, vẻ mặt ông lộ vẻ biết ơn. Chốc lát, ông quên người đàn bà này là người của quân đội Nhật. Ba mươi năm lưu lạc trên đất nước này, ông đã nhiều lần được chở che. Ông Innukai và Kashiwabara đã bảo bọc ông, thuyền trưởng tàu Yayomaru đã hết lòng che chở ông thoát khỏi sự truy lùng của mật thám Pháp. Đó là chuyện hai mươi, ba mươi năm trước. Lúc đó ông còn trẻ, chí khí còn hăng hái; gần mười năm nay, từ khi Innukai bị ám sát rồi, ông quá chật vật với cuộc sống, cô đơn, mệt mỏi. Phải nhận sự bảo trợ của lục quân Nhật là bất đắc dĩ, ông không thể không dựa vào người Nhật, nhưng ông biết Nhật và Pháp có thể bắt tay với nhau bất kỳ lúc nào. Ando Chie có phải là tai mắt của quân Nhật không? Ai biết đâu được. Dù sao lúc này bên ông chỉ còn có nàng thôi. Giờ phút này nàng đang dịu dàng lau mặt ông. Cảm giác được chăm sóc làm ông bùi ngùi ứa lệ. 

Chie chuyển dần chiếc khăn nóng xuống cổ và ngực ông, nàng nhẹ nhàng mở khuy áo để lau vai và lưng. Bỗng Cường Để buột miệng: 

- Về Việt Nam ! Ước gì ta được về Việt Nam ! 

Chie khựng lại một giây, rồi nàng hiểu, nhẹ vỗ vào lưng ông như dỗ dành: 

- Rồi ngài sẽ về, nhất định có ngày ngài sẽ về mà. 

Ông hoàng lưu vong cảm thấy ấm lòng, ông siết chặt tay nàng như muốn cảm ơn. Trong lúc đó Chie lại thấy lòng âm thầm một nỗi buồn. Ông sẽ đi, sẽ xa nàng, chắc chắn sẽ có ngày ấy... 

Cuối tháng, đại tá Wanatabe gặp Ando Chie ở Bộ Tư lệnh lục quân. Như thường lệ, Chie nói với ông về tất cả những sinh hoạt của Cường Để. Wanatabe hỏi: 

- Cô có thấy ông ta tiếp khách khứa từ xa tới không? 

- Không ạ. 

- Ông ta có nhận thư từ, tin tức gì từ Việt Nam ? 

- Không ạ. 

Chie trả lời, chắc chắn đến nỗi Wanatabe không hỏi thêm gì nữa. Ông ta nhìn Chie từ đầu đến chân như muốn đánh giá lại quan hệ giữa nàng và người ngoại quốc lưu vong ấy. Chie đỏ mặt, nàng hiểu cái nhìn của đại tá. Chắc chắn là ông ta rất khuyến khích việc nàng lên giường với người đàn ông kia, điều đó rất có lợi cho công việc. Chỉ có điều, ông ta không biết hôm qua nàng đã ủ ấm cho Cường Để, không phải với tư cách một nhân viên của lục quân Nhật, mà với tất cả tấm lòng của một người đàn bà. 

Năm năm sau. 

Chiến tranh khốc liệt trên khắp đất nước hoa anh đào. Những trận bom Mỹ dội xuống. Những ngôi nhà bằng gỗ và giấy cháy phừng phừng trong các góc phố Tokyo . 

Đang mùa lá đỏ nhưng chẳng còn ai nghĩ đến lễ hội mùa thu... Chỉ còn những đoàn người tản cư dắt díu nhau chạy. Ando Chie gói quần áo vào hai chiếc tay nải. Vội vàng, nhưng nàng không quên những chiếc áo lụa năm thân, áo dài the, khăn xếp, và cả bộ bình trà Tàu nhỏ xíu. 

- Ông ơi! 

Chie gọi. Hoàng thân giật mình, quay ra. Hôm nay ông mặc Âu phục chỉnh tề. Trong cảnh chộn rộn của Tokyo , vẻ chỉnh tề của ông trông thật lạc lõng. 

"Mình đi thôi, ông ạ. Mọi người đều tản cư về quê, chiều nay là chuyến chót". 

Hoàng thân hốt hoảng: 

- Nhưng ta còn phải chờ máy bay... Biết đâu ngày mai máy bay sẽ tới. 

Chie nhìn ông, xót xa. Cuối tháng bảy, nội các Suzuki Kantaro đã tổ chức bữa tiệc linh đình đưa ông về nước. Sau ba mươi hai năm xa quê, cái tin được về nước làm ông bàng hoàng. Trong bữa tiệc linh đình tại khách sạn Đế Quốc, ông hân hoan từ giã hết các chính khách đã ủng hộ ông...Mãi đến lúc sắp ra sân bay Haneda, cầm gói thức ăn đi đường từ tay Chie, ông mới nhìn thấy vẻ buồn trong mắt nàng. "Đừng buồn Chie, ta về nước rồi sẽ tính chuyện đón nàng sang". 

Chie mỉm cười. Ở Việt Nam , ông còn có người vợ cả và hai con nay đã lớn. Người vợ mà ông đã xa cách từ năm hai lăm tuổi. Ông sắp về với người đàn bà ấy. Nàng cảm thấy buồn, nhưng nàng mừng cho ông. 

Ngày hôm ấy ông đi, rồi đến tối mịt lại quay về. Ông kể, trên sân bay, nhân viên Bộ Tham mưu lục quân Nhật và ký giả báo chí tề tựu để tiễn chân ông...Nhưng máy bay từ Sài Gòn không đến đón. Ông quay về, ngã vật trên giường, mắt mở trừng trừng nhìn lên cao...Chie tháo giày cho ông, lau mặt cho ông. Nàng nhỏ nhẹ bảo ông: "Ông ạ, đừng buồn, chắc máy bay bị trở ngại gì đó thôi, mai lại đến ấy mà!". 


Từ đó hôm nào nàng cũng quấn sushi cho ông đem theo... Hôm nào ông cũng ra phi trường Haneda, hôm nào ông cũng trở về. Hơn năm hôm sau, nhân viên lục quân lẫn ký giả không còn ai đến nữa, chỉ còn ông ngày ngày một mình ngồi đợi. Lủi thủi tới, rồi lủi thủi về. 

Và hôm nay, ngày cuối tháng bảy, bom B29 của Mỹ đã trút xuống Tokyo , ông vẫn còn nghĩ đến chuyện đến phi trường chờ đợi. Chie bảo ông: 

- Mình phải đi thôi ông ạ! Phải chạy về quê, nếu không là chết. 

- Đúng rồi, nàng cứ đi, ta ở lại, biết đâu... 

Chie nắm lấy tay ông. Bàn tay ông gầy quá. Với mọi người, ông là một hoàng thân, được các cơ quan tiếp đón, các ký giả săn tin, được các nghị sĩ bảo trợ...Còn với nàng, đây là một người đàn ông tha hương, lạc lõng, túng thiếu, cô độc... Lúc này, nàng nhất định phải cứng rắn với ông, như những lúc bắt ông phải đi tắm vậy; nàng khoác tay nải lên vai ông và đẩy ông đi. Cường Để gượng lại, phản đối, nhưng khi bị đẩy đến cửa, dòng người tay xách nách mang chạy loạn đập vào mắt ông, và ông hiểu ngay điều gì đang xảy ra. 


Đêm đó trên chiếc xe bò lắc lư trong dòng xe qua vùng ngoại ô, ông nhìn thấy Tokyo bốc cháy, lửa rực đỏ dưới những lằn máy bay Mỹ vút ngang. Căn nhà mà lục quân Nhật cấp cho ông đã cháy rụi. 

Tháng tám, bom nguyên tử dội xuống Nagasaki và Hiroshima , Nhật Bản đầu hàng. Không còn ai đủ sức nghĩ đến vị hoàng tử lưu vong. Chỉ có một người đàn bà thầm lặng mỗi ngày làm thuê cho một xưởng than ở vùng quê để nuôi một người chồng lớn tuổi. Ando Chie lúc này không còn là nhân viên của lục quân Nhật nữa. Buổi sáng, nàng thức dậy nấu nước nóng cho chồng rồi tất tả đi; nàng vẫn thế, dù làm ở xưởng than nhưng lúc nào về nhà cũng rất sạch sẽ, còn chồng nàng vẫn vậy, rất lười tắm và suốt ngày ngồi chép những trang sách chữ Hán đã cũ nhàu. 

Nhiều người hỏi sao ông chồng nàng chẳng làm việc gì mưu sinh, Chie chỉ cười. Ông ấy là một ông hoàng. Dù rất nghèo và chẳng hề có quyền uy. Ông chẳng làm được gì cho nàng cả, nhưng nàng yêu thương ông với tất cả sự trìu mến xót xa. Trong lúc ông thì đau đáu chỉ muốn về quê hương - nghĩa là rời xa nàng. Nhưng nếu ông không có giấc mơ hoài hương, liệu ông có còn là người đàn ông mà nàng thương yêu không?


*** 

Năm năm sau. Cơ hội về nước lại đến. Ando Chie lại chuẩn bị hành lý cho Cường Để lên đường. 

Nước Nhật đã trở lại thanh bình. Trước ngày Cường Để về nước, bạn bè làm tiệc tiễn đưa. Ký giả Báo Asahi cũng đến dự. Cụng ly mừng, nhà báo ngỏ ý muốn đưa tin chuyến trở về của vị hoàng thân sau gần bốn mươi năm biệt xứ. 

Chuyến đi lần này bằng đường biển, từ cảng Kobe đáp tàu Hải Minh đến Bangkok rồi theo đường bộ qua Campuchia về Tây Ninh. Vì sao phải về nước qua cửa khẩu Tây Ninh? Vì Việt Nam đang thời kỳ chiến tranh Việt Pháp, Pháp vẫn còn đóng quân ở Nam kỳ. Nhưng Tây Ninh nằm trong lãnh địa của Giáo chủ Phạm Công Tắc. Với sự bảo trợ của Phạm Công Tắc, ông có thể lên bờ an toàn. 

Ký giả Asahi dặn dò: 

- Khi ngài tới nơi rồi, xin điện ngay cho tôi biết. 

Cường Để ngẫm nghĩ: 

- Trong nước hiện đang chiến tranh, tin tức khó gửi. Có lẽ cứ tính theo hải trình, đến trung tuần tháng bảy thì bỉ nhân đã đến quê nhà, quý ông có thể đưa tin được rồi. 

Ando Chie đưa ông đến bến cảng. Mùa thu, khí trời se lạnh. Tiếng quạ kêu vang sau những tàn cây lá đỏ. Ông đi rồi, Chie trở lại căn hộ hai phòng ở phố Ogikubo. Con đường bỗng dài hơn bao giờ hết. Ông hứa sẽ có ngày đón nàng sang Việt Nam . Lúc đó nàng chỉ bảo: "Bao lâu cũng được". Đến bây giờ, một mình trên con đường về nhà, nàng mới thấm thía cả khoảng trống chơ vơ trước mặt, rằng có thể nàng sẽ mãi mãi một mình trên đoạn đường còn lại... 

Nàng tiếp tục khâu những con búp bê vải - những con búp bê đã nuôi sống nàng và ông từ lúc về lại Tokyo . 

Đến tối, chủ nhà, bà Hashimoto gõ cửa hỏi thăm nàng. Bà đem vào cho nàng một gói bánh dẻo. 

"Trông em xanh quá. Tôi pha cho em một chén trà nóng nhé?". 

Chie uống chén trà từ tay bà chủ nhà tốt bụng. Trà nóng làm nàng hồi tỉnh. Nhìn hộp bánh dẻo xinh xắn, nàng nhớ đến chồng. Ông ấy vẫn thích loại bánh này. Nhưng dùng trong khi uống trà Tàu - ông vẫn không quen với trà Nhật. 

Bây giờ ông ấy đi đến đâu rồi nhỉ? Bà Hashimoto vuốt tóc nàng, dẫn nàng sang phòng làm việc của chồng bà, giáo sư Hashimoto Masukichi. Trên vách, giữa những tủ sách đồ sộ là tấm bản đồ châu Á. Bà chỉ cho Chie xem chỗ nào là Nhật Bản, Thái Lan, Việt Nam . Chie chăm chú nhìn. Chồng nàng đang ở trên vùng biển xanh xanh kia, ngoài khơi cái khối màu hồng rất lớn mà bà Hashimoto bảo là nước Trung Hoa. 

"Em đừng buồn, rồi ông ấy sẽ đạt chí nguyện, sẽ trở lại đón em sang, em phải gắng giữ sức khỏe nhé!" - Bà Hashimoto an ủi. 

Chie mỉm cười, nàng cúi đầu thật thấp tỏ lòng cảm ơn bà chủ. Chiều hôm ấy nàng đến chùa Senso, bên chiếc đỉnh lớn nghi ngút khói nhang giữa sân chùa, nàng vớt nhẹ khói hương ủ vào nơi lồng ngực. Lần trong tay áo, nàng lấy ra số tiền nhỏ, đủ cúng dường để xin một lời nguyện cầu. 

Vị sư già hỏi nàng cầu nguyện gì để ghi vào tấm thẻ gỗ trắng ngà. Nàng cúi đầu ngẫm nghĩ. Nàng muốn cầu nguyện những gì, chồng nàng sẽ có quyền uy, sẽ thành lãnh tụ, sẽ giàu sang, sẽ đón nàng về cùng hưởng cuộc sống cao sang? Cầu cho chồng nàng sẽ không quên nàng? Sẽ... Thực lòng nàng muốn gì? 

Chie ngập ngừng một lát rồi se sẽ đọc cho vị sư già chép vào thớ gỗ: 

- Tôi là Ando Chie...Cầu cho chồng tôi là Cường Để vượt sóng gió về đến quê nhà bình yên, sum họp với gia đình. 

Vị sư già ngẩng nhìn nàng. Ông đã viết giúp cho thiện nam tín nữ hàng ngàn lời nguyện. Ông nhìn Ando Chie một lát như muốn hỏi điều gì, nhưng rồi lại thôi, cúi xuống cắm cúi viết.


Khi trở về nhà, nàng thấy giáo sư Hashimoto đang chờ trước cổng. "Ando, có tin mừng cho cô đây". Ông đưa nàng tờ nhật báo Asahi. "Hoàng tử Việt Nam đã về đến quê nhà sau 32 năm ly hương". Chie mừng rơi nước mắt. Chiều hôm đó nàng làm món mì Nhật và sushi cá hồi, mời ông bà Hashimoto để tỏ lòng biết ơn. 


Ông bà về rồi, còn lại một mình Chie trong căn hộ vắng lặng. Một đoạn đời đã chấm dứt, đoạn đời mới bắt đầu, một chặng đường dài hun hút mà nàng sẽ phải đi một mình. 

Nàng giở tờ báo Asahi, đọc lại bài viết, rồi lật dần ra những trang sau: những mục tìm nhà, tìm việc. 

Cuối tháng bảy, bỗng bà Hashimoto đập cửa căn hộ của Ando Chie, hốt hoảng: 

- Ando, người ta vừa điện đến cho ông nhà tôi. Cô phải ra ngay cảng Yokohama ! 

Chie cuống quýt, hai chân run cầm cập, lưỡi líu lại. Nhưng người phụ nữ Nhật dường như được trời phú cho một nghị lực phi thường, nàng kiềm chế thật nhanh cơn hoảng hốt, cầm lấy chiếc ô, chạy ra cửa. 

Bà Hashimoto tốt bụng đã kịp thuê giúp nàng một chiếc xe ngựa. 

Trên cảng Yokohama về chiều, có một ông già ngồi trên chiếc ghế dài, ngẩn ngơ nhìn quanh với đôi mắt vô hồn, mặc kệ bao nhiêu người qua lại. Chie chạy lại gần. Sao mới có một tháng mà chồng nàng đổi thay đến thế, y phục nhàu nát, khuôn mặt gầy tọp rám nắng, mái tóc bạc xỉn đi và bê bết bụi. 

- Ông ơi... 

Chie cầm lấy tay chồng. Bàn tay ông gầy trơ xương, nhưng vẫn là bàn tay của ông, ông đang ở đây, bên nàng. "Ông ơi, sao ông lại về được?". Chie hỏi, nhưng người đàn ông ngẩn ngơ nhìn mông lung, vẻ mặt sững sờ tuyệt vọng, dường như không còn nhận ra gì chung quanh nữa. Ông chỉ không ngớt lẩm bẩm: "Không về được! Không về được nữa! Không về nữa!". 

Với Chie, về là về Nhật Bản, với ông, về là về Việt Nam . 

Hơn một tháng Chie ra sức chăm sóc, Cường Để mới dần dần hồi tỉnh lại. Ông kể với nàng: tàu Hải Minh bị trục trặc bánh lái nên đã ghé Thượng Hải một tuần. Trong khi đó, Báo Asahi đã đưa tin, và mật vụ Pháp biết được rằng chuyến tàu phải cập cảng Bangkok, đã điện cho Bộ Ngoại giao Thái. Vì quan hệ giao thương với Pháp, Chính phủ Thái đã không cho Cường Để nhập cảnh Thái Lan, buộc lòng phải theo tàu quay về Nhật Bản. 


Cường Để không bao giờ còn trở lại như trước kia nữa. Tuyệt vọng, suy sụp, ông đã hoàn toàn là một ông già trái tính trái nết, đau ốm triền miên. Đôi khi, căm hận số phận, ông ném bất cứ cái gì vớ được vào vách. Chie phải cất bộ đồ trà ông đem theo từ Việt Nam thật kỹ, mỗi sáng pha trà xong nàng đứng chờ ông uống xong, đem cất ấm chén rồi mới dám dời mắt. 

Cuối mùa thu có hai người khách ở Việt Nam sang ghé thăm. Họ là hai chính khách đang có thế lực, hứa sẽ tìm cách đưa Cường Để về nước. 

Khách về rồi, Chie dọn tách chén trên bàn, định bưng đi. Chợt ông níu tay nàng: 

- Nàng ơi, nàng có tin ta còn về nước được không? 

Chie đặt khay xuống, quay lại cầm cả hai bàn tay ông, vỗ về: 

- Thiếp tin. 

- Ta cũng tin vậy. Nghe nói chẳng bao lâu nữa người Pháp sẽ rút khỏi Đông Dương... 

Chie lau những giọt mồ hôi đang ứa ra trên trán người đàn ông. Dạo này ông yếu quá, chỉ một cơn xúc động cũng đủ làm mồ hôi toát ra dầm dề. 

Mấy hôm sau ông bồn chồn đến mất ngủ, lúc nào khỏe lại lật giở những thư từ, sách vở đã cất giữ từ bốn mươi năm trước, cả bức Thư huyết lệ của người Việt Nam mà ông viết khi mới ngoài ba mươi tuổi. 

Ba mươi năm đã qua, sứ mệnh cứu nước không còn nằm trong tay thế hệ ông nữa rồi. Nhưng những bức thư cũ này sẽ mãi mãi là kỷ niệm rực rỡ nhất của đời ông. 

- Nàng cất kỹ những giấy tờ này cho ta. Khi ta về nước, đồng bào nhất định sẽ hỏi đến. 

Chie đặt chén thuốc xuống bàn rồi đỡ lấy những tờ giấy cũ vàng tên tay ông. 

Bây giờ ông đã tin nàng thật sự, ông giao cho nàng những tờ giấy này, đối với ông nó còn quý hơn cả bạc vàng. 

- Uống thuốc đi mình - Chie nhắc. Cường Để gật đầu, không đợi Chie nài ép dỗ dành như mọi lần, ông bưng chén thuốc đắng ngắt uống cạn. 

Gương mặt đang rạng rỡ của ông bỗng nhăn nhúm lại, một cơn đau đang âm ỉ dưới sườn non chợt nhói lên. 

Chie đỡ cái bát, tay kia vỗ nhẹ lên lưng chồng như muốn xoa dịu phần nào cái buốt nhói trong cơ thể ông. Tuần trước, bác sĩ Bệnh viện Nihon Ika Daigaku đã nói cho nàng biết, Cường Để đã mắc bệnh ung thư gan, ông chỉ còn sống nhiều lắm là ba tháng nữa. 

Chie giữ kín tin dữ không cho ai hay. Nàng biết đây là lúc nàng phải mạnh hơn bao giờ hết.


Cường Để cố uống thuốc cho mau khỏi bệnh. Ông xem đi xem lại bức thư của mấy người Việt vừa ghé thăm tháng tám năm ngoái, bức thư hứa sẽ tìm cách vận động cho ông hồi hương. Mỗi lần đọc thư ông thấy khỏe hẳn lên như vừa uống một thang thuốc bổ. 

Nhưng đến đầu tháng tư, sau nhiều cơn đau hành hạ, Cường Để cũng nhận ra rằng mệnh của mình đã hết. 

Ông cố mở đôi mắt mệt mỏi, gắng nhìn thật kỹ những gì chung quanh: khung cửa sổ nhỏ, những chiếc áo Việt may bằng lụa Nhật treo trên vách, chiếc chậu đồng dưới chân giường, những vật dụng thường ngày của cuộc sống lưu vong tạm bợ, giờ phút này ông nhìn chúng với ánh mắt bịn rịn vô cùng. 

Mắt ông dừng lại nơi khuôn mặt Chie đang nhìn xuống, vẻ thầm lặng và nhẫn nhục đầy yêu thương. Ông quờ quạng nắm lấy tay nàng: Mình ơi, mình có phải là Phật Bà Quan Âm của tôi không? 

Đó là lần đầu tiên ông nói lời tri ân với nàng sau bao nhiêu năm chung sống. Nhưng nàng không hiểu gì cả, vì ông không biết là mình không dùng tiếng Nhật. Như một bản năng, mấy hôm nay ông chỉ nói toàn tiếng Việt. 

Chie vẫn cúi nhìn, vẫn vẻ mặt âu yếm xót xa, nàng áp sát mình xuống thân thể còm cõi của ông, tay nắm lấy cả hai tay ông như muốn bảo: Đừng sợ, có thiếp đây, dù đi đến đâu ngài cũng không cô độc. 

Cường Để dần thiếp đi. 

Lúc ấy là năm giờ 5 phút sáng mồng 6 tháng 4 năm 1951. Một mình Ando Chie úp mặt khóc lặng lẽ trên thi thể ông. 

Ngoài cửa sổ, hoa anh đào đang nở. Hôm ấy là ngày đầu của lễ hội hoa anh đào trên đất Nhật. 


*** 

Cửa mở ra, hai người đàn ông theo Ando Chie bước vào căn hộ. Đập vào mắt họ là những tấm hình của Kỳ ngoại hầu Cường Để trên vách. Vị hoàng thân trẻ măng hai mươi lăm tuổi ngày mới đến Nhật. Hội chủ Hội Đông du Phục Quốc, sinh viên trường Đại học Waseda, hình chụp với Thủ tướng Innukai, hình chụp với ký giả Asahi trong bữa tiệc long trọng tại khách sạn Đế Quốc...Tất cả là những trang đời đẹp nhất của Cường Để. Còn hình ảnh buồn thảm những ngày chờ đợi trên sân bay Haneda, những ngày chạy loạn nghèo túng cơ cực, ngày về tang thương trên cảng Yokohama... Những hình ảnh ấy giờ đây chỉ còn trong ký ức Chie mà thôi. 


Hai tay bưng bình tro, Ando Chie trao di cốt Cường Để cho hai con của ông. Nàng cúi mặt thầm nghĩ: Thế là ngài sắp về nhà, giấc mơ cả đời của ngài giờ đây mới thành tựu. Ngài lên đường bình an, lần này thiếp không phải gói sushi cho ngài mang đi nữa rồi. 


Người con trai cả của Cường Để đỡ lấy bình tro di cốt của cha. Mặt ông đầy nước mắt. Ông ngạc nhiên thấy người đàn bà Nhật này vẫn bình thản, nét mặt trang nghiêm dịu dàng chỉ hơi phảng phất buồn. Nhưng người con trai thứ hai đứng cách đó vài bước thấy rất rõ đôi bàn tay của Chie sau khi trao xong bình tro. Đôi bàn tay ấy bấu chặt vào nhau, những móng tay quắp vào da thịt, rồi chúng run rẩy bấu víu lấy đôi tay áo kimono, và đến lượt thớ vải giằng co như sắp bị xé rách ra. 


Khi hai người đàn ông đi rồi, Chie khép cửa, quỳ xuống sàn. Nàng lấy trong ống tay áo ra một mẩu xương và một nhúm tro nhỏ. Chie đã giữ lại cho mình một phần thân thể của chồng. 

Nàng biết mình không làm trái với ý nguyện ông. Dù chẳng hiểu ông nói gì khi sắp mất nhưng nhìn vào mắt ông nàng biết, ông rất muốn ở lại với nàng. Hình như vào giờ phút ấy ông nhận ra mình sắp đi vào một cõi xa thăm thẳm, ở nơi ấy ông sẽ gọi cả trần gian này là quê nhà. Và ở quê nhà đó, một trong những gì giản dị và thân thương nhất chính là Chie... 


Ando Chie mất bốn mươi năm sau, trước khi mất bà để lại di chúc muốn được chôn cùng với nắm tro tàn của Kỳ ngoại hầu Cường Để. Nhưng cho đến nay lọ hài cốt của bà vẫn còn trong phòng mộ tập thể của nghĩa trang Zoshigaya, nơi có những cây tùng xanh biếc và tiếng quạ kêu man mác buồn trong những buổi sáng mùa xuân.


Trần Thuỳ Mai

Sunday, May 29, 2022

NGƯỜI CON DÂU CỦA NƯỚC MỸ

 Nhân ngày lễ Memorial Day năm nay, xin mời đọc lại một bài viết vô cùng cảm động sau đây của quả phụ một sĩ quan QLVNCH, kể về một mối tình thời chiến tranh Việt Nam giữa chị ruột của tác giả với một người lính Mỹ, đã hy sinh trong cuộc chiến. Hơn ba mươi năm sau, tưởng nhớ công ơn người anh rể đã hy sinh cho quê hương, tác giả ghé thăm bức tường đá đen ghi danh 58,000 tử sĩ Mỹ trong chiến tranh Việt Nam... Không ngờ, tại đây, bà tình cờ gặp bố mẹ của người anh rể cũng đến viếng thăm con, và qua câu chuyện, tác giả đã giúp ông bà nội người Mỹ tìm thấy người con dâu Việt và đứa cháu nội chưa từng biết mặt...



NGƯỜI CON DÂU CỦA NƯỚC MỸ 


Tháng tư thường cho tôi nhiều nỗi buồn và nhớ. Buồn vì từ đó ta làm thân mất nước không nhà và nhớ vì trước đó có quá nhiều kỷ niệm không bao giờ còn tìm lại được. Giữa lúc lòng tôi đang chơi vơi thì chị bạn rủ theo đoàn nguời về thủ đô Hoa thịnh Đốn để coi hoa Anh Đào nở và nhất là đi thăm bức tường đá đen, ghi lại tên tuổi của hơn năm mươi tám ngàn tử sĩ Hiệp chủng quốc Hoa Kỳ, đã bỏ mình để bảo vệ tự do của miền Nam xưa. Với tôi đó là một dịp may đến thật tình cờ.


Tôi vẫn thường nghe nói về vườn hoa Anh Đào mà vương quốc Nhật tặng cho nhân dân Mỹ khi xưa ở thủ đô, đang khoe sắc mỗi độ xuân về. Thật như thỏa tấm lòng vì cả hai, được nhìn những cành hoa mà cả một thời tuổi trẻ ước mơ và đến tận nơi bức tường đá đen để tìm tên một người đã là điều tôi mong muốn từ lâu. Thế nên tôi thu xếp hành trang vôi vã đi ngay. Hơn hai mươi bốn giờ ngồi trên xe theo nhóm người du ngoạn đã đưa tôi từ miền Texas xa xôi về tới thủ đô. Con đường Ohio chạy dọc theo bờ sông Potomac hoa Anh đào đã nở rực rỡ một màu hồng phơn phớt trắng. Hơi lạnh đầy trong không khí của một mùa đông dài còn sót lại, vương qua mùa xuân, đọng trên những cánh hoa dọc theo con đường Constitution dẫn đến bức tường đá đen nằm kia, trầm mặc u buồn.


Tháng Tư, hoa đã nở từ lâu. Xác hoa rơi lả tả làm hồng cả một khỏang không gian quanh những con đường chạy dọc theo công viên. Hoa Anh Đào thật đây rồi, những cánh hoa mà tươi xinh ngày xưa tôi chỉ được nhìn thấy trong phim ảnh rồi thầm cảm mến những kiếm sĩ của xứ Phù tang, cô đơn vung đường gươm, để hoa rơi trong tuyết lạnh, thì hôm nay đang rực rỡ khoe sắc trước mắt tôi đây. Tôi tách ra khỏi nhóm người đi bộ một mình dưới những tàn cây. Tôi vẫn thích đưọc đi một mình để nhớ về những ngày tháng đã dần qua.

Ngày xưa chưa mất miền Nam gia đình tôi đã có một cuộc sống ấm êm hạnh phúc. Chồng tôi, một người lính trận, mỗi lần về phép thường hay cùng đi với một quân nhân Mỹ, cố vấn trong đơn vị. Hai người cùng làm việc, cùng chung sở thích và ý nguyện nên rất thân nhau. Thuở ấy tôi không biết nhiều về đất Mỹ như bây giờ nhưng qua lời anh diễn tả, cũng đủ hiểu rằng người lính Mỹ ấy đến từ một vùng quê xa xôi miền trung bắc Hoa Kỳ. Ngoài cái vẻ bên ngoài rất tài tử, râu ria xồm xoàm vì những ngày tháng lăn lóc trong chiến trận chưa kịp cắt tiả thì Mike Wright thật nhân hậu và hiền lành. Tôi cũng ngạc nhiên với tấm lòng rộng lượng hồn nhiên của nguời Mỹ. Họ đã mang biết bao nhiêu tài sản, cả sinh mạng khi đến giúp đất nước tôi, hòa nhập vào đời sống người dân bản xứ, tươi vui trong cuộc sống. Bởi thế, anh chàng râu tia xồm xoàm Mike chiếm được cảm tình của gia đình, nhất là bà chị lớn chưa chồng của chúng tôi ngay. Chuyện tình của một người lính viễn chinh từ một đất nước xa xôi với người con gái Việt Nam còn nguyên nền nếp gia phong diễn ra thật êm đềm hạnh phúc với một đám cưới đậm chất phương Đông. Chị tôi khăn đóng, áo dài bên cạnh anh Mike cũng áo dài khăn đóng. Trông họ cũng thật vừa đôi.


Từ đó tôi không còn cô đơn trông ngóng hằng đêm mà có cả chị tôi là kẻ đồng tình, đồng cảnh. Chúng tôi đã có những ngày đợi chờ trong lo lắng, đã có những ngày đoàn viên trong hạnh phúc. Những tháng tươi vui của một thời son trẻ tưởng như không bao giờ dứt cho đến một ngày kia. Tôi không quên được cái ngày người chỉ huy hậu cứ tiểu đoàn đích thân đến báo cho tôi biết là chồng tôi và đơn vị của chàng không về nữa. Cả người cố vấn Mỹ dễ thương đang là anh rể của tôi cũng cùng chung số phận. Một đơn vị oai hùng, thiện chiến, tưởng như là không bao giờ thua trận đã nằm lại đâu đó trên vùng đất Hạ Lào của mùa hè khói lửa. Tôi và người chị, ngày ấy thực sự bị cuốn vào những cơn ác mộng, nhất là khi chị tôi biết được rằng mình vừa khó ở, chưa thông báo cho Mike biết về đứa con vừa thành hình trong bụng chị.



Sau khi miền Nam lọt vào tay phương Bắc là một quãng đời địa ngục trần gian đến với chúng tôi. Nhất là chị với đứa con lai đã hứng chịu trăm đắng ngàn cay bởi vì sự dè bỉu, khinh khi cũng như phân biệt đối xử của người cai trị mới. Chị tôi bị hành hạ, bị lăng nhục, bị đe dọa đưa vào cái trại gọi là phục hồi nhân phẩm mà thực chất là tước đoạt hết nhân phẩm con người. Chịu đựng bao nhiêu đắng cay khổ sở nhưng chị tôi vẫn cắn răng làm việc nuôi dạy con khôn lớn nên nguời. Có một điều làm tôi lạ lùng là tình yêu của chị dành cho anh hơn hẳn những thường tình. Chị luôn nhắc tới anh với những lời yêu thương trang trọng, với sự bùi ngùi thương tiếc của một người góa phụ tưởng nhớ thương chồng. Chị không đòi hỏi gì ở anh cũng như đất nước anh. Khi chương trình tái định cư những người con lai bắt đầu, tôi cũng tưởng chị vui sướng lắm. Nhưng không, chị từ chối ra đi chỉ vì còn nặng lòng với mảnh đất được sinh ra và đứa cháu tôi cũng vui vẻ vâng theo lời mẹ. Tôi không giống và cũng không chịu đựng được như chị. Tôi chọn ra đi để đưa các con tôi về với tự do. Khi con thuyền mong manh đưa chúng tôi ra biển, tôi đã thầm cầu nguyện ơn trên cho chúng tôi vượt sóng đươc bình an. Tôi đã chọn tự do hay là chết và chân thành cầu xin đó là một sự chọn lựa đúng đắn và may mắn nhất trong đời...


Cứ mải suy nghĩ và đi theo con đường hoa, tôi đến trước bức tường đá đen tự bao giờ. Con đường dần xuống thấp để những dòng tên trắng hiện ra. Một cặp vợ chồng người Mỹ trắng đã già lắm, run rẩy dắt tay nhau bước lên bực thang. Mắt người đàn bà còn ướt đỏ. Tôi đoán rằng bà vừa mới khóc. Gặp nhau trên bực thang đầu tiên, tôi vui vẻ chào hai người rồi hỏi lớn:

-Ông bà từ đâu tới. 

-Chúng tôi từ Ohio, còn cô. 

- Thưa ông bà tôi từ Texas. 

Người đàn ông râu dài nhưng cắt tỉa gọn gàng, dáng vẻ hiền từ thân thiện. Ông ta mỉm cưởi hỏi lại.

-Tôi muốn hỏi cô người nước nào. Phi, Tàu, Nhật hay Thái lan. 

-Thưa ông tôi là người Việt Nam.


Bỗng nhiên tôi thấy gương bặt người đàn bà dường như đổi sắc. Hình như một sự giận dữ bất ngờ chợt làm bà ta vùng vằng cố bước lên bậc thang ngắn tiến về phía trước. Tôi ngạc nhiên nhìn ông già chờ đợi một lời giải thích về cử chỉ bất thường của bà. Chắc có một điều gì không ổn vì tôi biết đa số người Mỹ thường lịch sự, ít ai bày tỏ ngay những điều khó chịu trong lòng. Như đóan được ý nghĩ của tôi ông buồn rầu giải thích. 

-Cô đừng buồn với thái độ của vợ tôi. Bà ấy đang buồn rầu. Chúng tôi mất đứa con trai duy nhất ở Việt Nam, nên mỗi khi thấy người Việt Nam vợ tôi lại xúc động, không ngăn được cảm xúc nên có những cử chỉ bất thường.


Tôi nhìn bà già đã ngồi xuống chiếc ghế đá bên lối đi, đang run rẩy cố chống hai tay lên đùi, mắt vô hồn nhìn vào quãng không gian phía trước. Nếu tôi mất con cho một cái xứ sở xa lạ nào chắc gì tôi còn giữ được bình tĩnh như bà. Lòng tôi rạt rào niềm thương xót để nói với ông rằng tôi thông cảm tâm tình của những bà mẹ mất con cho một dân tộc họ không hề mảy may biết tới. Trong lúc xúc động tôi cũng nói với ông là chính tôi và gia đình tôi cũng mất mát rất nhiều trong cuộc chiến chống cộng sản xâm lăng đó. Và đau đớn hơn thế nữa, chúng tôi đã mất cả quê hương, tổ quốc. Ông già Mỹ luôn luôn lập đi lập lại rằng tôi biết, chúng tôi biết, rồi xin phép tôi chạy đến săn sóc cho bà đã ngồi xuồng ghế đá cách đó không xa lắm. Ông nói lớn, chào từ giã khi tôi đi lần xuống phía dưới để dò tìm những hàng chữ mang tên người anh rể ngoại chủng năm xưa đã nằm xuống ở Việt Nam.


Tôi biết vần W sẽ nằm ở hàng cuối cùng nhưng cũng mất một lúc lâu mới tìm thấy cái tên Mikes Wright, tên người anh rể tôi năm kia, khiêm nhường giữa tên của bao nhiêu người. Nhỏ bé và đơn giản trong một không gian bao la, nhưng thật hào hùng độ lượng như cuộc đời anh và đất nước đang cưu mang chúng tôi đây. Tôi lặng chìm trong những giấc mơ xưa về một gia đình hạnh phúc mà nhớ đến chồng tôi. Tên của Mikes người ta còn nhớ chứ tên của chồng tôi kẻ thù đã xóa đi. Ngay cả miếng đất nhỏ bé mà chồng tôi an nghỉ người ta cũng đang toan tính cướp mất của anh. Tôi nhớ đến nghĩa trang quân đội Biên Hòa. Nhớ đến giây phút vật vã khóc lóc nhìn thi hài anh được gắn lon giữa hai hàng nến. Nhớ đến những khuôn mặt lầm lỳ, chai sạn vì gió bụi của những nguời lính bồng súng chào chồng tôi lần cuối khi đưa chàng về với đất mẹ năm xưa.


Giữa lúc lặng yên tưởng nhớ thì mấy bà bạn tôi xuất hiện. Các bà gọi la tên tôi ơi ới, trách tôi xé lẻ tìm vui một mình. Cả bọn trầm trồ, chỉ trỏ reo vui với những cái tên lạ, nói cười vui vẻ như không cần biết gì về những niềm đau. Ôi nhân thế thường mau quên để sống, chỉ có mình tôi hay đi ngược thời gian về những dòng sông cũ. Chúng tôi lại rủ nhau đi thăm viện bảo tàng không gian gần đó. Một đoàn người vừa đi vừa cười, vừa hỏi thăm đường rộn vui lên góc phố. Ở đây người ta quen mắt với những cái lố lăng của du khách từ khắp mọi miền trên thế giới nên chẳng thấy phiền hà.


Đến trưa lúc sắp ra về tôi lại gặp cặp vợ chồng người Mỹ ban sáng. Lạ một điều là tôi thấy ông già có nét gì rất quen. Lần này bà có vẻ vui hơn, mỉm cười khi tôi chào gặp lại. Chắc ông đã giải thích cho bà biết rằng ai cũng có những nỗi buồn, những mất mát khác nhau chứ không phải riêng bà. Chúng tôi đứng ngoài hành lang nói chuyện. Ông bà cho tôi biết sẽ về lại Ohio chiều mai, một nông trại xa xôi nằm sát biên giới tiểu bang Indiana. Ông nói thế nhưng tôi chẳng hình dung được gì ngoài những con số mà tôi đoán rằng đất đai chắc là rộng lớn. Tôi cũng cho ông biết chúng tôi còn ở đây thêm vài ngày, đi thăm một vài nơi nữa rồi chào từ giã theo dòng người thăm viếng.

Buổi sáng hôm sau tôi có thói quen thức dậy thật sớm trong lúc mọi người còn say trong giấc ngủ. Tôi mở cửa bước ra ngoài, đi bộ theo con đường Ohio dọc theo bờ sông, rồi tình cờ bước dần về phía bức tường đá đen. Trời còn sớm quá nhưng tôi thấy dưới chân bức tường thấp thoáng bóng ngươi. Bước tới gần hơn tôi bất ngờ nhận ra ông bà già Mỹ hôm qua đang ở đó tự bao giờ. Bà ngồi hẳn xuống đưa tay sờ lên những hàng tên như vuốt ve một vật gì quý giá. 

Gặp lại nhau tôi lên tiếng:

-Chào ông bà. Ông bà ra đây sớm quá. Tôi cứ tưởng chỉ mình tôi đi bộ trong khu này.. 

Ông ôn tồn giải thích:

-Chiều nay chúng tôi trở về lại Ohio rồi nên thu xếp thời gian thăm lại nơi đây lần nữa. 

Bà vẫn không nói, đưa tay sờ lên phiến đá. Tôi chắc bà thương yêu người con và đau đớn lắm khi nhìn lên hàng chữ có tên con mình. Mắt tôi tò mò nhìn theo và ngạc nhiên thấy tay bà đang đặt trên hàng chữ của vần W. Như có một linh tính báo trước chuyện lạ lùng tôi buột miệng hỏi ông:

- Con trai của ông bà tên là gì nhỉ. Anh ấy mất ở Việt nam năm nào? 

- Con trai tôi tên là Mikes Wright, Tử trận ở Việt năm năm 1972. Tên nó đây, ngay đây này...


Vừa nói ông vừa chỉ về phía tay bà đang xoa xoa che khuất cái tên mà trước đây tôi đã đặt tay vào. Chính đó là tên anh rể của tôi. Cha của đứa cháu mồ côi mà chị tôi yêu quý như báu vật của cuộc đời mình. Tôi đứng lặng người nhìn ông rồi lại nhìn bà. Sao cuộc đời lại có sự tình cờ kỳ diệu đến thế này. Để chắc chắn mình không nằm mơ tôi hỏi lại những chi tiết rất chung chung mà tôi còn nhớ về anh.  

- Anh Mikes của ông bà rất nhiều râu và vui tính lắm phải không. 

- Cô nói gì tôi không hiểu. Dĩ nhiên ngày ấy Mikes còn trẻ lắm nên râu ria mọc là thường. 

Tôi nhìn lại ông và mơ hồ thấy nét quen thuộc mà tôi chợt khám phá ra hôm qua, là ông trông rất giống Mike ở cái cằm vuông vức và bộ râu rậm dài. Ông già bùi ngùi nói tiếp:

- Vợ tôi buồn một điều là đáng lẽ ra Mikes đã hết hạn phục vụ ở Việt nam trở về Mỹ nhưng vì yêu thương một người con gái bản xứ nên tình nguyện phục vụ thêm một thời hạn nữa và cái thời hạn đó không bao giờ chấm dứt...

- Thế ông bà có biết tin tức gì về người con gái ấy không. 

- Mikes có gởi cho chúng tôi một tấm hình, thông báo là đã thành hôn. Lâu quá rồi nhưng chúng tôi còn giữ tấm hình ấy trong tập ảnh gia đình ở Ohio. Chỉ có thế mà thôi. 

Tôi muốn nói với ông chính tôi là em người con gái Việt Nam ấy nhưng sợ rằng mình nhận lầm, vì biết đâu có một anh Mike nào khác nữa nên chỉ nói với ông:

- Hơn ba mươi năm trước đây tôi cũng có một người anh rể tên là Mike Wright, quê quán ở miền trung bắc Mỹ. Tôi chỉ biết thế không biết có phải là anh Mikes con của ông bà không. Tôi từ Texas lên đây chơi nhưng chính là để nhìn thấy tên anh Mikes Wright một lần trên tấm bia đá này.


Ông mở mắt nhìn tôi kinh ngạc rồi kéo bà lên, nói với bà tin tức quan trọng đó. Ông luống cuống, mời tôi ngồi xuống tấm ghế đá trong khi bà cứ há miệng ra thẫn thờ chờ đợi. Rồi ông dồn dập hỏi. 

- Tôi chắc là đúng rồi. Đấy cô coi có cái tên Mikes Wright nào khác đâu. Thế chị cô bây giờ ở đâu. Tôi muốn hỏi thăm tin tức về Mikes trong những ngày cuối cùng. 

- Thưa ông bà, chị tôi vẫn còn ở Việt Nam. Chắc rằng chị tôi cũng chẳng biết gì hơn ông bà.  

Như chính tôi đây chẳng biết gì hơn tin tức cuối cùng của chồng tôi và Mikes. Đầu tiên người ta chỉ thông báo cho chúng tôi là hai người đã mất tích sau một đợt tấn công của địch và cả tuần lễ sau mới tìm thấy xác mang về.  

- Thế thì đúng như cô nói, chắc đúng là Mikes rồi. Khi chúng tôi đến nhận xác Mikes thì đã không mở ra được nữa vì những điều kiện vệ sinh. 

- Nhưng tôi có một tin quan trọng về anh Mikes, không biết ông bà có muốn nghe không?

- Tin gì vậy, thưa cô. Chúng tôi không còn gì trên đời này ngoài hình ảnh của Mikes và những gì liên quan đến đứa con yêu thương của chúng tôi. 

- Chị tôi có một người con với anh Mikes. Chính anh Mikes cũng không biết vì lúc vừa mới có thai, chưa kịp thông báo thì anh Mikes và chồng tôi đã không về nữa. 

Ông bà liên tục kêu lên những lời thống thiết, không rõ là lời đau khổ hay mừng vui.

- Chúa ơi, thật thế sao! Chúa ơi! Chúa ơi!

- Thật thế thưa ông bà. Cháu giống Mikes lắm. Nếu ông bà thấy cháu là nhận ra ngay thôi.

- Thế bây giờ cháu ở đâu thưa cô. 

-Cháu vẫn còn ở Việt nam. Vì thương mẹ nên cháu không về Mỹ theo chính sách trở về quê cha của những đứa con lai.


Tôi và ông bà Wright cùng bước đi như trong cơn mơ vì sự gặp gỡ bất ngờ. Tôi cho ông bà địa chỉ, số điện thoại của tôi và nhận lại địa chỉ số điện thoại của ông bà ở Ohio để tiện bề liên lạc. Những thông tin ban đầu mặc dù đã chính xác, nhưng tôi muốn biết chắc tấm ảnh ngày xưa có phải là của chị tôi hay không. Chiều hôm đó ông bà Wright về lại Ohio. Tôi đoán ông bà vui vẻ lắm. Mất một đứa con cho cái xứ Việt Nam xa xôi nhưng ông bà sẽ được nhận lại một đứa cháu ngoan ngoãn và đứa con dâu còn giữ đúng truyền thống Việt Nam. Tôi biết chị tôi là một người đàn bà Việt Nam hiền thục. Tôi đã đoán không sai vì ba hôm sau khi tôi còn ở khách sạn thì tiếng điện thoại lại reo. Lần này ông bà Wright theo xe trở lên, mang cả gia đình đứa con gái gồm con rể và hai đứa cháu. Họ lái một chiếc xe van lớn mang theo cả tấm ảnh ngày xưa.

Gặp nhau tại công viên ông bà đưa tôi tấm ảnh và giải thích:

- Vội quá nên chúng tôi không book được vé máy bay. Vả lại Nathalie, em gái của Mikes và chồng con nó ở gần đó cũng muốn đi nên chúng tôi lái xe cho tiện. 

Tấm ảnh chụp cách đây hơn ba mươi năm giờ đã ố vàng. Màu sắc phai theo thời gian nhưng vẫn còn sắc nét. Tôi cầm tấm ảnh như đưa tay chạm vào một phần quá khứ xa xăm. Trong ảnh, chị tôi người con dâu đất Mỹ, e ấp đứng bên người chồng râu tia xồm xoàm, đang đưa cánh tay khỏe mạnh ôm vòng lấy người con gái như ôm ấp chính cuộc đời cô. 

- Đúng là chị tôi rồi....

Ông bà Wright mừng vui như mở hội. Bà như trẻ trung hẳn lên. Bao nhiêu bệnh tật gần như tan biến. Mấy người đi theo cũng lộ nét mừng vui hớn hở. Bà hỏi tôi những chuyến bay về Việt Nam với những dự định đi thăm viếng đứa cháu, con của người con tưởng như đã mất, bỗng dưng còn để lại trong cuộc đời này cả một phần huyết nhục. Tôi thưa với ông bà rằng tôi đã nói chuyện với chị tôi qua điện thoại. Chi cũng rất vui mừng về sự gặp gỡ này. Chị sẵn sàng cho cháu về quê nội cũng như chính chị sẵn sàng về làm dâu ông bà, chăm sóc cho ông bà trong lúc tuổi già đúng như truyền thống của người Việt nam. Tôi đã biết tình yêu của chị dành cho Mikes nên không ngạc nhiên với quyết định này. Ông bà chăm chú nghe tôi giải thích phong tục Việt Nam là người vợ phải làm dâu phụng dưỡng cha mẹ chồng. Ông kêu Chúa ôi liên tục sau mỗi câu nói làm tôi có cảm tưởng như đang kể cho ông bà nghe về chuyện phong thần, nhưng tôi biết bây giờ đối với ông bà, đất trời là cả một mùa xuân.


Sau đó một thời gian dài, tôi lại bận bịu vì phải lo lắng dẫn ông bà Wright về lại Việt Nam. Bận bịu nhưng lòng tôi sung sướng. Tôi không giấu được xúc động khi nhìn thấy ông bà lần đầu tiên gặp lại đứa cháu nội sau hơn ba mươi năm thương nhớ người con đã khuất. Ông bà cứ kêu lên những lời vui mừng vang một góc sân và làm ngạc nhiên những người hàng xóm Việt Nam vốn không thiếu sự tò mò.

  

-Oh my God! He just looks like his father! Oh my God!


Bây giờ chị tôi, một người con gái Việt nam về làm dâu muộn màng trên đất Mỹ, đang thay cha mẹ chồng cai quản một nông trại trồng bắp ở Ohio với đứa con duy nhất của một cuộc tình nở vội trong cuộc chiến Việt Nam.


THU SẦU

Từ mấy thu rồi xa cách nhau

Lòng ta mang nặng nỗi u sầu

Gom lá mùa thu ôn kỷ niệm

Dệt thơ giữ lại đến ngày sau. 

*

Gió cuốn về đâu những lá vàng

Ðường chiều vương vấn một màu tang

Tìm đâu dư ảnh ngày xưa ấy

Hay vẫn trong ta những lỡ làng.

* 

Nhìn bóng thời gian lặng lẽ trôi

Sao người vẫn cứ mãi xa xôi

Ðể cho ngày tháng trôi trôi mãi 

Âm thầm một kiếp sống đơn côi.

* 

Lặng lẽ đêm thu tiếng thở dài

Lòng nghe nức nở nhớ thương ai

Bao mùa xa cách dù xa cách 

Kỷ niệm còn đây với tháng ngày.


Lưu Hồng Phúc