Sunday, May 29, 2022

CẢO THƠM LẦN GIỞ …

 Bùi Giáng viết về thơ Tuệ Sỹ



Tuệ Sỹ một vị sư. Ông viết văn quá nghiêm túc, những sở tri của ông về Phật học quả thật quảng bác vô cùng. Thấy ông vẻ người khắc khổ, không ai ngờ rằng linh hồn kia còn ẩn một nguồn thơ thâm viễn u u.... Một bữa ông đọc cho tôi nghe hai câu thơ chữ Hán của ông:


Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy

Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi


Ông bảo làm sao tiếp cho hai câu để nên một bài tứ tuyệt. Tôi đề nghị với ông nên nhờ ni cô Trí Hải tiếp giùm. Ông ngượng nghịu bảo tôi đừng nên rỡn đùa như thế. Vậy tôi xin lai rai thử viết:

Thâm dạ phong phiêu nghiệp ảnh tùy

Hiện tiền vị liễu lạc hoa phi

Phiêu bồng tâm sự tân toan lệ

Trí Hải đa tàm trúc loạn ty


Và xin ông chả nên lấy thế làm bực mình.


Nhưng ai có ngờ đâu nhà sư kín đáo e dè kia, không hề bao giờ có vướng lụy, lại còn mang một nguồn thơ Việt phi phàm? Một bài thơ "Không đề" của ông đủ khiến ta khiếp vía mất ăn mất ngủ:


Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ

Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn






Mới nghe bốn câu thôi, tôi đã cảm thấy lạnh buốt linh hồn, tê cóng cả cõi dạ.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa ngược nước xuôi ngàn

Tôi hoảng vía đề nghị : Đại Sư nên gác bỏ viết sách đi. Và làm thơ tiếp nhiều cho, Nếu không thì nền thi ca Việt mất đi một thiên tài quá lớn.

Ông đáp : - Để về hỏi lại cô Trí Hải xem có đúng như lời thế chăng.

Đôi mắt ướt tuổi vàng

Khung trời

Hội cũ

Xin xuống giòng thư thả như thế. Ắt nhìn thấy chất trang trọng dị thường của hoài niệm. Hoài niệm gì? - Cung trời hội cũ.

Một hội đạp thanh ? Một hội nao nức ? - "Giờ nao nức của một thời trẻ dại ?".

Đôi mắt ướt tuổi vàng khung trời hội cũ...

Mở lời ra, nguồn thơ trực nhập vào trung tâm cơn mộng chiêm niệm. Đầy đủ hết mọi yếu tố bát ngát: một cung trời xán lạn bao la, một hội cũ xao xuyến, một tuổi vàng long lanh.... Một đôi mắt ướt ngậm ngùi của hiện tại.






Nhưng mạch thơ đi ngầm. Tiết nhịp âm thầm nhiếp dẫn. Thi sĩ không cần tới một hình dung từ nào cả, vẫn nói được hết mọi người đều "phải nói" với mọi người "muốn nghe" với riêng mình "không thiết chi chuyện nói".

Người thi sĩ xuất chúng xuất thần thường có phong thái khác thường đó. Họ nói tất ít mà nói rất nhiều. Họ nói rất nhiều mà chung quy hồ như chẳng thấy gì hết. Họ nói cho họ, mà như nói hết cho mọi người. Nói cho mọi người mà cơ hồ chẳng bận tâm gì tới chuyện thiên hạ nghe hay chẳng nghe. Nỗi vui, nỗi buồn của họ, dường như chẳng phi giống lối vui buồn của chúng ta. Do đó chúng ta trách móc họ một cách lệch lạc hết cả (par manque de justice interne).


Trong một cuộc vui, ta hỏi họ vài điều. Họ lơ đễnh thờ ơ, ta tưởng họ kiêu bạc. Trong lúc mọi người đang gào khóc giữa đám tang, họ phiêu nhiên đi qua, trông có vẻ như mỉm cười, niêm hoa vi tiếu. Ta tưởng họ tàn nhẫn thô bạo.

Vua Gia Long ngày xưa đã từng lấy làm quái dị về thái độ Nguyễn Du : "Trẫm dùng người, không phân biệt kẻ Nam kẻ Bắc. Ai có tài thì trẫm trọng dụng (...). Cớ sao khanh lại u sầu ít nói suốt năm như thế?".

Ông vua kia lấy làm lạ là phải lẽ lắm, hợp với lương tri thói thường thiên hạ lắm. Ông không thể hiểu vì sao vị di thần kia cứ miên man như nằm trong cõi mộng thần di, hồn dịch!

Vua đã ban cho chan hòa mưa móc, lộc trọng quyền cao đặc ân thâm hậu như thế, cớ sao Liệp Hộ chưa vừa lòng, vẫn chưa cứ thả mộng chạy lang thang về chân trời hướng khác.

Đáp: Ấy chính bởi đôi mắt nhìn đây mà thấy những đâu đâu.

Đôi mắt ướt tuổi vàng

Khung trời hội cũ





Đôi mắt ướt? Đôi mắt của ai? Vì sao ướt? Vì lệ trào, hay là vì quá long lanh?

Thi sĩ không nói rõ. Ấy là giữ một khoảng trống vắng lặng phóng nhiệm cho thơ.

Tha hồ chúng ta tự do nghĩ hai ba lối. Hoặc là đôi mắt thi nhân ướt trong hiện tại vì nhớ nhung một trời hội cũ. Hoặc là đôi mắt giai nhân nào long lanh dịu mật như nước suối chan hòa, soi bóng một khung trời hội cũ bất tuyệt nào, mà ngày nay tại hạ đã đánh mất rồi chăng?

“Áo màu xanh không xanh mãi trên đồi hoang"

Áo nào màu xanh? Màu xanh màu chàm của cô gái Mán gái Mường, gái núi nào xưa kia băng rừng và thi nhân đã ngẫu nhiên một lần nhìn đắm đuối?


Tôi nói không sai sự thật mấy đâu. Vì Tuệ Sỹ vốn xưa kia ở Lào. Cha mẹ ông kiều cư trên đất Thượng Lào Trung Việt. Bà mẹ ông thỉnh thoảng cũng trở về Sài Gòn tới chùa viếng ông đem quà cho ông một đôi dép riêng biệt, một tấm khăn quàng riêng tây.

Đôi mắt ướt tuổi vàng

Khung trời hội cũ

Áo màu xanh

Không xanh mãi

Trên đồi hoang

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ.

Thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn

Phút vội vã bỗng thấy mình du thủ?

Mình là thân Bồ tát, quanh năm kinh kệ trai chay, thế sao bỗng nhiên một phút vội vã lại dám làm thân du thủ? Dám gác bỏ kệ kinh? Dám mở cuộc thắp đèn khuya ngồi kể chuyện trăng tàn?

Phải có nhìn thấy khuôn mặt khắc khổ chân tu của Tuệ Sỹ, mới kinh hoàng vì lời nói thăm thẳm đơn sơ nọ. Lời nói như ngân lên từ đáy sâu linh hồn tiền kiếp, từ một quê hương trên thượng du bao la rừng núi gió sương canh chiều nguyệt rung rinh trong đêm lạnh.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Mối tình rộng thả suốt biển non im lìm lạnh lẽo. Một hạt muối vẫn chưa tan. Một nếp u ẩn của lòng mình bơ vơ không gột rửa.

Từ núi lạnh đến biển im muôn thuở

Đỉnh đá này và hạt muối đó chưa tan

Ta tưởng như nghe ra "cao cách điệu" bi hùng của một Liệp Hộ, một Nerval, một chỗ trầm thanh nhất trong cung bậc Nietzche.





Thy nhân đã mấy phen ngồi ngó trăng tàn? Ngồi trên một đỉnh đá? Bốn bề rừng thiêng giăng rộng ngút ngàn màu trăng xanh tiếp giáp tới chân trời xa xuôi đại hải?

Đỉnh đá và hạt muối là hai chốn kết tụ tinh thể của núi và biển. Đỉnh đá quy tụ về mọi hương màu trời mây rừng rú. Hạt muối chứa chất cái lượng hải hàm của trùng dương. Đó là cái bất tận của tâm tình dừng sững tại giữa tuyết nguyệt phiêu du:

Cười với nắng một ngày sao chóng thế

Nay mùa đông mai mùa hạ buồn chăng

Một tiếng "buồn chăng" lơ lửng nửa như chất vấn, nửa như ngậm ngùi ta thán, dìu về cả một khúc tâm thanh đoạn trường:

Sen tàn cúc lại nở hoa

Sầu dài ngày ngắn đông đà sang xuân

Đếm tóc bạc tuổi đời chưa đủ

Bụi đường dài gót mỏi đi quanh

Tiết nhịp lời thơ lại biến đổi :

Đếm tóc bạc

Tuổi đời

Chưa

Đủ

Bụi đường dài

Gót

Mỏi

Đi

Quanh

Tiết điệu rạc rời như gót mỏi đi quanh. Một tuổi đời chưa đủ? Một tuổi xuân chưa vừa? Một tuổi vàng sớm chấm dứt? Một tuổi "đá" sớm từ giã mọi yêu thương?

Giờ ngó lại bốn vách tường ủ rũ

Suối nguồn xa

Ngược nước

Xuôi ngàn

Bài thơ dừng lại. Dư âm bất tuyệt kéo dài trong đêm lữ thứ khép mình trong bốn bức tường với nhạt nhòa ủ rũ ngục tù.

Chỉ một bài thơ, Tuệ Sỹ đã trùm lấp hết chân trời mới cũ Đường Thi Trung Hoa tới Siêu Thực Tây Phương.


Bùi Giáng 

(Trích từ 'Đi vào cõi thơ')


TƯỞNG NIỆM


CHIẾN SĨ TRẬN VONG 

God bless America - Land of the Free because of the Brave.

🇺🇸 


Tri ân người chiến sĩ 

Đã chết trong chiến tranh

Trong mộ phần an nghỉ 

Những anh hùng vô danh


Họ là những người lính

Vì đất nước hy sinh

Để chúng ta được sống

Trong tự do hoà bình 


Memorial Day 

Tự do trên đất này

Tôi nhớ về đồng đội 

Những người lính không may 


Bỏ mình trong cuộc chiến

Huynh đệ tương tàn xưa

Không nấm mồ tưởng niệm

Hồn thiêng theo gió đưa 


Nhớ đến những người lính 

Đã nằm xuống một thời

Những nấm mồ hoang phế 

Người lính bị bỏ rơi 


Nén tâm hương tưởng niệm 

Ngày chiến sĩ trận vong 

Dâng người qua cuộc chiến 

Với tất cả tấc lòng 


31/5/21


#MemorialDay 🇺🇸

Wednesday, May 11, 2022

30 THÁNG TƯ GẶP NHAU @ FT. WORTH

Gặp nhau nơi Ft Worth

Năm ông lính cũ thuở đôi mươi 

Lại tao ngộ chiến ở xứ người 

Nửa thế kỷ dài như giấc mộng 

Ôn lại chuyện xưa chỉ biết cười 


Một thuở tang bồng cung kiếm cũ 

Nam nhi hồ thỉ cũng đã xa 

Thời lai khỉ vượn thành dân lạ 

Vận khứ quần hùng ẩm hận đa 


Ẩm gì cũng ẩm… bao năm đã

Cười đau khóc hận khúc hàm ca 

Năm ông đồng đội ngày đoạn chiến

Tan hàng cố gắng ấy thế mà 


Duyên may còn gặp là đã quý 

Đến tuổi này ! Cũng chẳng hồ như  

Buồn? vui! Thì đã là cổ tích

Ghi lại nhớ ba mươi tháng tư

 30/4


Tuesday, May 10, 2022

H Ồ T R Ư Ờ N G

 Về một lỗi typo trong  HỒ TRƯỜNG



ba mươi tháng tư bên chiếu rượu

buồn vui ôn lại đoạn chiến thương 

bằng hữu đã cho tôi nghe lại 

bạn ta ngâm ngợi khúc Hồ Trường 

một khúc trầm hùng mà bi tráng 

nghe rồi nghe lại vẫn cùng sầu 

Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ !

Hồ Trường ! Ta biết rót về đâu ! 


Bài Hồ Trường - Nguyễn Bá Trác mà tôi nghe đi nghe lại, ngâm nga, đọc thơ trong lẫy lừng hào khí, đã biết bao nhiêu lần; đâu phải bây giờ mới thấm, đâu phải bây giờ mới cảm ! 

Cui, bạn nối quần “tà lỏn” của tôi vừa nhắc lại khúc Hồ Trường trong buổi chia tay tiễn bạn ta vào trường Võ Bị Đà Lạt năm xưa đó, khi bọn chúng tôi đang độ tuổi hai mươi, lúc tóc còn xanh, mộng tràn biên giới. Tiễn “chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt” ngày ấy, quyết “xếp bút nghiên theo việc đao cung” …bốc lên “ chí những toan lấp bể dời non, làm nên đấng anh hùng đâu đấy cả…” thì những chàng Lệnh Hồ thiếu hiệp thời đại sinh bất phùng thời… đã cùng nâng chén vung bầu, ngâm ngợi  Hồ Trường đầy phong vị hào sảng, trầm hùng, u uất mà bi tráng… thì thật là đúng cảnh đúng người. 

“Học không thành, danh chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.

Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường.” 

Phải không bạn cui ! 

Nhiều năm về sau, trong nhiều hoàn cảnh bi thương trầm uất trong vòng kẽm gai chiến tranh, tù đày… lạc lõng trong dòng đời vô định, trên quê hương tàn cuộc đao binh… rồi phiêu dạt nơi xứ người …khúc Hồ Trường đó luôn hiện diện trong tâm khảm những “tráng sĩ” miền Nam thất thế.  Nhất là bên những cuộc rượu túy luý càn khôn bằng hữu một thời áo trận giày saut. Từ khi tóc còn xanh đến phơ phơ đầu bạc. Cảm khái làm sao! 

Hãy đọc lại khúc Hồ Trường bi tráng nhé ! Bạn ta ơi! 


“Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,

Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha phương.

Trời Nam ngàn dặm thẳm, mây nước một màu sương.

Học chẳng thành, công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.

Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.

Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?

Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.

Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan.

Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.

Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.

Nào ai tỉnh, nào ai say.

Chí ta ta biết lòng ta ta hay.

Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.” 

( Hồ Trường, Nguyễn Bá Trác) 


Bạn ta bảo Hồ Trường ngay từ bản in đầu tiên trên Nam Phong tạp chí, số 41, năm 1920 đã có vài lỗi chính tả so với các bản về sau như 

- “sé gan” thay vì “xé gan”

- “ngọn bắc phong vì vụt” thay vì “ngọn bắc phong vi vút”

- “Nam nhi sự ngiệp…” thay vì “Nam nhi sự nghiệp…” 

Đó là thời nền ấn loát còn in typo, dùng bản đúc chữ chì nên sai sót là chuyện đương nhiên.

Sau bản in đầu tiên, có thêm 4 bản khác được lưu hành, có khác nhau vài chỗ, nhưng bạn ta cho biết, có một lỗi chính tả quan trọng vì cho đến nay vẫn chưa được hiệu đính ?! 

Ngâm ngợi, đọc đi rồi đọc lại … chữ sai ấy ở đoạn nào nhỉ ? 


Từ khi cụ Nguyễn Bá Trác đưa lên Nam Phong tạp chí năm 1920, khúc ca Hồ Trường đã hơn trăm tuổi. Biết bao nhiêu thế hệ, nhất là hào sĩ nam giới, đã yêu thích, lưu truyền tự bấy lâu nay … thì lỗi chính tả nào nữa đây mà không ai để ý. Hay là có để ý nhưng vẫn đọc theo thói quen cố hữu. 


Bạn ta chỉ ra rằng trong câu 

“Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.” đấy thôi 

 Nào hãy cầm bầu rượu nâng chén cảm khái ngâm lại mấy câu 

“Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?”

“Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn”

Ừ nhỉ! Bao nhiêu thì nhân mặc khách vẫn ngâm Hồ Trường với hai chữ “cuồng lạn” bao lâu nay theo bản in đầu tiên trên Nam Phong tạp chí năm 1940 và Phạm Thế Ngũ in lại trong “Việt Nam văn học sử giản ước tân biên” năm 1965 và nhiều bản trên mạng về sau này đều theo bản in đầu tiên với hai chữ “cuồng lạn” hay “cuồng loạn”! Có gì hồ nghi về điều này nhỉ? 


“Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn”


“Cuồng lạn” vẫn được đọc như thế xưa nay, nhưng xét lại trong tiếng Việt “cuồng lạn” là nghĩa gì ?! Tra từ điển Việt Hán Nôm thì hoàn toàn không có chữ “cuồng lạn”

Nhưng trong các bản in Hồ Trường thì có đấy?!  “cuồng lạn” đã không rõ nghĩa nên  bản chép là “cuồng loạn” cho chữ có nghĩa. Đôi khi bản in ra lại có thêm gạch nối “cuồng-lạn” -  “cuồng-loạn”, hơi vô lý, vì gạch nối (-) xưa phần đa chỉ dùng cho danh từ.

Đọc lại toàn bài, cụ Nguyễn Bá Trác dùng toàn vần bằng ở cuối mỗi câu trong ca khúc chỉ có “cuồng lạn” hay “cuồng loạn” là vần trắc. 

Bạn bảo thế có nên hồ nghi vần trắc của chữ này sai “lỗi typo”, lỗi của nhà in ngay bản đầu tiên. Cụ Nguyễn Bá Trác đã dịch thoát khúc ca Hồ Trường từ Nam Phương Ca Khúc tiếng Hán. Bản này có 12 câu và Nguyễn Bá Trác chép lại và tự dịch thoát sang tiếng Việt, không có nhan đề và về sau là khúc ca Hồ Trường, cũng có 12 câu, như ta đã biết 

Vậy câu “ “Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.” là câu số 7 do cụ Nguyễn Bá Trác dịch từ câu số 7 trong Nam Phương Ca Khúc mà cụ đã chép lại. 

Câu ấy như sau:

“Dư trường trịch hướng đông minh thuỷ, đông minh chi thuỷ vạn đội khởi cuồng lan. “

(予觴擲向東溟水,東溟之水萬隊起狂瀾)

Nghĩa Nôm là: 

Ta quăng chén rượu đầy trộn nước biển đông, nước biển đông nổi cuộn vạn lớp sóng. 

Có lẽ cụ Nguyễn đã chuyển sang Việt ngữ ra câu này 

 “Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lan”

Nhưng vì thợ xếp chữ in typo thời sơ khai đó, đã bất cẩn thêm dấu nặng (.) dưới chữ lan nên thành “cuồng lạn”, như đã nói, chữ “lạn” đi với chữ “cuồng” thì vô lý. 

Trước đó, trong bài hát nói Kẻ Sĩ cụ Nguyễn Công Trứ cũng có câu 

“Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên” 迴狂瀾而障百川. (Ngăn sóng dữ để bảo vệ các dòng sông). Chữ “cuồng lan” 狂瀾 tiếng Hán có nghĩa là “sóng dữ” và chữ “lan” 瀾 ( với bộ thủy 氵)  chỉ có 1 cách đọc là “lan” không có thể đọc là “lạn”. Thế nên trong nguyên bản chữ Hán câu số 7 từ Nam Phương ca khúc đến khúc Hồ Trường cũng nên đọc là “cuồng lan” cho đúng 

“Dư trường trịch hướng đông minh thuỷ, đông minh chi thuỷ vạn đội khởi cuồng lan. “

(予觴擲向東溟水,東溟之水萬隊起狂瀾)

Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lan.

 

Lại xét về vần thì “cuồng lan” vần với “chứa chan” ở câu dưới mới gọi là hiệp vận. Kế tiếp là “cát dương” vần với “như điên như cuồng”  

“Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?

Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lan.

Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan.

Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.

Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.”


Rồi, các câu đầu và cuối, đọc lại mà xem; hiệp vận toàn bài Hồ Trường  là vần bằng.

“Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,

Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha phương.

Trời Nam ngàn dặm thẳm, mây nước một màu sương.

Học chẳng thành công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.

Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.”

…”Nào ai tỉnh, nào ai say.

Chí ta ta biết lòng ta ta hay.

Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.” 


Vậy thời, cớ sao có vần trắc “cuồng lạn” ở câu số 7 bài Hồ Trường?

Thêm nữa “cuồng lan” (sóng dữ) là danh từ, còn “cuồng lạn hay cuồng loạn” ( lộn xộn rối loạn một cách điên dại) lại là tính từ. Cứ thế mà xét ý “nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn (loạn), ( rối loạn lung tung ) hay sinh “cuồng lan” ( sóng dữ) chữ nào đúng hơn đây ta ?! 


Ôi! Cảm khái khúc Hồ Trường! 

Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?

Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lan. (sóng dữ) 

Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan.

Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.

Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.

Nào ai tỉnh, nào ai say ? “ 


Thôi cứ còn gặp nhau các hào sĩ cứ 

Uống với nhau một bữa rượu 

Để tưởng niệm tháng tư 

Rượu cũng đắng lên môi người thất thổ

Chưa mềm môi 


Đất khách 

Vẫn mây sầu tám hướng 

Vẫn mù che khuất nẻo quê xưa. 


Hồ Trường khúc ấy còn ai rót 

Bốn phương tám hướng 

Lạc lối về 


mnc 

30/4 ——> 1/5 

2022

Monday, May 2, 2022

NGUYỄN DU . THU NHẬT KÝ HỨNG



Thu nhật ký hứng 

Tây phong tài đáo bất quy nhân, 

Đốn giác hàn uy dĩ thập phần. 

Cố quốc sơn hà khan lạc nhật, 

Tha hương thân thế thác phù vân. 

Hốt kinh lão cảnh kim triêu thị, 

Hà xứ thu thanh tạc dạ văn. 

Tự sẩn bạch đầu khiếm thu nhập, 

Mãn đình hoàng diệp lạc phân phân. 

Nguyễn Du


Nguyên tác  


 秋日寄興


西風纔到不歸人, 

頓覺寒威已十分。 

故國山河看落日, 

他鄉身世托浮雲。 

忽驚老境今朝是, 

何處秋聲昨夜聞。 

自哂白頭欠收入, 

滿庭黃葉落紛紛



Ngày thu chép hứng

Gió tây mới thoảng khách xa đường, 

Khí lạnh đìu hiu đã thấm xương.

Chiều nhuộm núi sông tình cố quốc, 

Mây vần thân thế bóng tha hương. 

Vừa nghiêng tai lắng thu lên tiếng, 

Bỗng giật mình trông tóc trắng gương. 

Ngán nỗi già đời không biết liệu, 

Đầy sân nượp nượp lá bay sương   

(Quách Tấn dịch) 



        Viết lúc Thu về  

Gió Tây thoảng lại người-chưa-về

Bỗng chợt nghe lòng lạnh tái tê

Thân gửi mây trời nơi đất khách

Ngày tàn bỗng tưởng nhớ về quê

Soi gương ban sớm e đầu bạc

Vọng tiếng thu về nghe thiết thê

Tự trách già đầu không biết liệu 

Đầy sân lá rụng đến ê chề


(Mai Ngọc Cường dịch) 

24/9/2017

NGÀY CUỐI THÁNG TƯ


hiu hắt tháng tư buồn cố sự 

u uất nghe chừng vẫn chưa nguôi 

mây trắng bay đầy trời viễn xứ 

nắng đổ vàng rơi rụng xuống đồi


mơ giữa bạt ngàn màu áo trận

lô nhô trên ngọn sóng thời gian 

ngang trời bão nổi anh hùng tận 

mà nghe nhói  buốt suốt tâm can


tháng tư như một lời trăng trối 

thời gian in dấu, thoáng hồ như

vết sẹo chiến trường còn nhức nhối 

đôi vai người lính cũ mỏi nhừ 


vẫn nặng hành trang, không súng đạn

không còn áo trận với giày saut

tháng tư về lại trong cơn mộng

chong mắt đêm dài giữa hư vô


tôi đã cùng tháng tư mất ngủ

thao thức trong đêm muộn bàng hoàng 

nhủ lòng quên đi đừng nhớ nữa

dù gì lịch sử đã sang trang


tháng tư có những đêm mất ngủ 

ký ức về trong mắt đỏ lừ

thời gian đứng lại từ ngày ấy

đã chết cùng ba mươi tháng tư 


Mai Cao Nguyên

mnc 



30/4