Tuesday, May 10, 2022

H Ồ T R Ư Ờ N G

 Về một lỗi typo trong  HỒ TRƯỜNG



ba mươi tháng tư bên chiếu rượu

buồn vui ôn lại đoạn chiến thương 

bằng hữu đã cho tôi nghe lại 

bạn ta ngâm ngợi khúc Hồ Trường 

một khúc trầm hùng mà bi tráng 

nghe rồi nghe lại vẫn cùng sầu 

Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ !

Hồ Trường ! Ta biết rót về đâu ! 


Bài Hồ Trường - Nguyễn Bá Trác mà tôi nghe đi nghe lại, ngâm nga, đọc thơ trong lẫy lừng hào khí, đã biết bao nhiêu lần; đâu phải bây giờ mới thấm, đâu phải bây giờ mới cảm ! 

Cui, bạn nối quần “tà lỏn” của tôi vừa nhắc lại khúc Hồ Trường trong buổi chia tay tiễn bạn ta vào trường Võ Bị Đà Lạt năm xưa đó, khi bọn chúng tôi đang độ tuổi hai mươi, lúc tóc còn xanh, mộng tràn biên giới. Tiễn “chàng tuổi trẻ vốn dòng hào kiệt” ngày ấy, quyết “xếp bút nghiên theo việc đao cung” …bốc lên “ chí những toan lấp bể dời non, làm nên đấng anh hùng đâu đấy cả…” thì những chàng Lệnh Hồ thiếu hiệp thời đại sinh bất phùng thời… đã cùng nâng chén vung bầu, ngâm ngợi  Hồ Trường đầy phong vị hào sảng, trầm hùng, u uất mà bi tráng… thì thật là đúng cảnh đúng người. 

“Học không thành, danh chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.

Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ lại đây cùng ta cạn một hồ trường.” 

Phải không bạn cui ! 

Nhiều năm về sau, trong nhiều hoàn cảnh bi thương trầm uất trong vòng kẽm gai chiến tranh, tù đày… lạc lõng trong dòng đời vô định, trên quê hương tàn cuộc đao binh… rồi phiêu dạt nơi xứ người …khúc Hồ Trường đó luôn hiện diện trong tâm khảm những “tráng sĩ” miền Nam thất thế.  Nhất là bên những cuộc rượu túy luý càn khôn bằng hữu một thời áo trận giày saut. Từ khi tóc còn xanh đến phơ phơ đầu bạc. Cảm khái làm sao! 

Hãy đọc lại khúc Hồ Trường bi tráng nhé ! Bạn ta ơi! 


“Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,

Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha phương.

Trời Nam ngàn dặm thẳm, mây nước một màu sương.

Học chẳng thành, công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.

Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.

Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?

Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.

Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan.

Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.

Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.

Nào ai tỉnh, nào ai say.

Chí ta ta biết lòng ta ta hay.

Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.” 

( Hồ Trường, Nguyễn Bá Trác) 


Bạn ta bảo Hồ Trường ngay từ bản in đầu tiên trên Nam Phong tạp chí, số 41, năm 1920 đã có vài lỗi chính tả so với các bản về sau như 

- “sé gan” thay vì “xé gan”

- “ngọn bắc phong vì vụt” thay vì “ngọn bắc phong vi vút”

- “Nam nhi sự ngiệp…” thay vì “Nam nhi sự nghiệp…” 

Đó là thời nền ấn loát còn in typo, dùng bản đúc chữ chì nên sai sót là chuyện đương nhiên.

Sau bản in đầu tiên, có thêm 4 bản khác được lưu hành, có khác nhau vài chỗ, nhưng bạn ta cho biết, có một lỗi chính tả quan trọng vì cho đến nay vẫn chưa được hiệu đính ?! 

Ngâm ngợi, đọc đi rồi đọc lại … chữ sai ấy ở đoạn nào nhỉ ? 


Từ khi cụ Nguyễn Bá Trác đưa lên Nam Phong tạp chí năm 1920, khúc ca Hồ Trường đã hơn trăm tuổi. Biết bao nhiêu thế hệ, nhất là hào sĩ nam giới, đã yêu thích, lưu truyền tự bấy lâu nay … thì lỗi chính tả nào nữa đây mà không ai để ý. Hay là có để ý nhưng vẫn đọc theo thói quen cố hữu. 


Bạn ta chỉ ra rằng trong câu 

“Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.” đấy thôi 

 Nào hãy cầm bầu rượu nâng chén cảm khái ngâm lại mấy câu 

“Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?”

“Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn”

Ừ nhỉ! Bao nhiêu thì nhân mặc khách vẫn ngâm Hồ Trường với hai chữ “cuồng lạn” bao lâu nay theo bản in đầu tiên trên Nam Phong tạp chí năm 1940 và Phạm Thế Ngũ in lại trong “Việt Nam văn học sử giản ước tân biên” năm 1965 và nhiều bản trên mạng về sau này đều theo bản in đầu tiên với hai chữ “cuồng lạn” hay “cuồng loạn”! Có gì hồ nghi về điều này nhỉ? 


“Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn”


“Cuồng lạn” vẫn được đọc như thế xưa nay, nhưng xét lại trong tiếng Việt “cuồng lạn” là nghĩa gì ?! Tra từ điển Việt Hán Nôm thì hoàn toàn không có chữ “cuồng lạn”

Nhưng trong các bản in Hồ Trường thì có đấy?!  “cuồng lạn” đã không rõ nghĩa nên  bản chép là “cuồng loạn” cho chữ có nghĩa. Đôi khi bản in ra lại có thêm gạch nối “cuồng-lạn” -  “cuồng-loạn”, hơi vô lý, vì gạch nối (-) xưa phần đa chỉ dùng cho danh từ.

Đọc lại toàn bài, cụ Nguyễn Bá Trác dùng toàn vần bằng ở cuối mỗi câu trong ca khúc chỉ có “cuồng lạn” hay “cuồng loạn” là vần trắc. 

Bạn bảo thế có nên hồ nghi vần trắc của chữ này sai “lỗi typo”, lỗi của nhà in ngay bản đầu tiên. Cụ Nguyễn Bá Trác đã dịch thoát khúc ca Hồ Trường từ Nam Phương Ca Khúc tiếng Hán. Bản này có 12 câu và Nguyễn Bá Trác chép lại và tự dịch thoát sang tiếng Việt, không có nhan đề và về sau là khúc ca Hồ Trường, cũng có 12 câu, như ta đã biết 

Vậy câu “ “Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn.” là câu số 7 do cụ Nguyễn Bá Trác dịch từ câu số 7 trong Nam Phương Ca Khúc mà cụ đã chép lại. 

Câu ấy như sau:

“Dư trường trịch hướng đông minh thuỷ, đông minh chi thuỷ vạn đội khởi cuồng lan. “

(予觴擲向東溟水,東溟之水萬隊起狂瀾)

Nghĩa Nôm là: 

Ta quăng chén rượu đầy trộn nước biển đông, nước biển đông nổi cuộn vạn lớp sóng. 

Có lẽ cụ Nguyễn đã chuyển sang Việt ngữ ra câu này 

 “Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lan”

Nhưng vì thợ xếp chữ in typo thời sơ khai đó, đã bất cẩn thêm dấu nặng (.) dưới chữ lan nên thành “cuồng lạn”, như đã nói, chữ “lạn” đi với chữ “cuồng” thì vô lý. 

Trước đó, trong bài hát nói Kẻ Sĩ cụ Nguyễn Công Trứ cũng có câu 

“Hồi cuồng lan nhi chướng bách xuyên” 迴狂瀾而障百川. (Ngăn sóng dữ để bảo vệ các dòng sông). Chữ “cuồng lan” 狂瀾 tiếng Hán có nghĩa là “sóng dữ” và chữ “lan” 瀾 ( với bộ thủy 氵)  chỉ có 1 cách đọc là “lan” không có thể đọc là “lạn”. Thế nên trong nguyên bản chữ Hán câu số 7 từ Nam Phương ca khúc đến khúc Hồ Trường cũng nên đọc là “cuồng lan” cho đúng 

“Dư trường trịch hướng đông minh thuỷ, đông minh chi thuỷ vạn đội khởi cuồng lan. “

(予觴擲向東溟水,東溟之水萬隊起狂瀾)

Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lan.

 

Lại xét về vần thì “cuồng lan” vần với “chứa chan” ở câu dưới mới gọi là hiệp vận. Kế tiếp là “cát dương” vần với “như điên như cuồng”  

“Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?

Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lan.

Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan.

Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.

Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.”


Rồi, các câu đầu và cuối, đọc lại mà xem; hiệp vận toàn bài Hồ Trường  là vần bằng.

“Trượng phu không hay xé gan bẻ cột phù cương thường,

Hà tất tiêu dao bốn bể luân lạc tha phương.

Trời Nam ngàn dặm thẳm, mây nước một màu sương.

Học chẳng thành công chẳng lập, trai trẻ bao lâu mà đầu bạc, trăm năm thân thế bóng tà dương.

Vỗ gươm mà hát, nghiêng bầu mà hỏi, trời đất mang mang, ai là tri kỷ, lại đây cùng ta cạn một hồ trường.”

…”Nào ai tỉnh, nào ai say.

Chí ta ta biết lòng ta ta hay.

Nam nhi sự nghiệp ư hồ thỉ, hà tất cùng sầu đối cỏ cây.” 


Vậy thời, cớ sao có vần trắc “cuồng lạn” ở câu số 7 bài Hồ Trường?

Thêm nữa “cuồng lan” (sóng dữ) là danh từ, còn “cuồng lạn hay cuồng loạn” ( lộn xộn rối loạn một cách điên dại) lại là tính từ. Cứ thế mà xét ý “nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lạn (loạn), ( rối loạn lung tung ) hay sinh “cuồng lan” ( sóng dữ) chữ nào đúng hơn đây ta ?! 


Ôi! Cảm khái khúc Hồ Trường! 

Hồ trường, hồ trường, ta biết rót về đâu?

Rót về Đông phương, nước bể Đông chảy xiết sinh cuồng lan. (sóng dữ) 

Rót về Tây phương, mưa Tây sơn từng trận chứa chan.

Rót về Bắc phương, ngọn Bắc phong vi vút đá chạy cát dương.

Rót về Nam phương, trời Nam mù mịt, có người quá chén như điên như cuồng.

Nào ai tỉnh, nào ai say ? “ 


Thôi cứ còn gặp nhau các hào sĩ cứ 

Uống với nhau một bữa rượu 

Để tưởng niệm tháng tư 

Rượu cũng đắng lên môi người thất thổ

Chưa mềm môi 


Đất khách 

Vẫn mây sầu tám hướng 

Vẫn mù che khuất nẻo quê xưa. 


Hồ Trường khúc ấy còn ai rót 

Bốn phương tám hướng 

Lạc lối về 


mnc 

30/4 ——> 1/5 

2022

Monday, May 2, 2022

NGUYỄN DU . THU NHẬT KÝ HỨNG



Thu nhật ký hứng 

Tây phong tài đáo bất quy nhân, 

Đốn giác hàn uy dĩ thập phần. 

Cố quốc sơn hà khan lạc nhật, 

Tha hương thân thế thác phù vân. 

Hốt kinh lão cảnh kim triêu thị, 

Hà xứ thu thanh tạc dạ văn. 

Tự sẩn bạch đầu khiếm thu nhập, 

Mãn đình hoàng diệp lạc phân phân. 

Nguyễn Du


Nguyên tác  


 秋日寄興


西風纔到不歸人, 

頓覺寒威已十分。 

故國山河看落日, 

他鄉身世托浮雲。 

忽驚老境今朝是, 

何處秋聲昨夜聞。 

自哂白頭欠收入, 

滿庭黃葉落紛紛



Ngày thu chép hứng

Gió tây mới thoảng khách xa đường, 

Khí lạnh đìu hiu đã thấm xương.

Chiều nhuộm núi sông tình cố quốc, 

Mây vần thân thế bóng tha hương. 

Vừa nghiêng tai lắng thu lên tiếng, 

Bỗng giật mình trông tóc trắng gương. 

Ngán nỗi già đời không biết liệu, 

Đầy sân nượp nượp lá bay sương   

(Quách Tấn dịch) 



        Viết lúc Thu về  

Gió Tây thoảng lại người-chưa-về

Bỗng chợt nghe lòng lạnh tái tê

Thân gửi mây trời nơi đất khách

Ngày tàn bỗng tưởng nhớ về quê

Soi gương ban sớm e đầu bạc

Vọng tiếng thu về nghe thiết thê

Tự trách già đầu không biết liệu 

Đầy sân lá rụng đến ê chề


(Mai Ngọc Cường dịch) 

24/9/2017

NGÀY CUỐI THÁNG TƯ


hiu hắt tháng tư buồn cố sự 

u uất nghe chừng vẫn chưa nguôi 

mây trắng bay đầy trời viễn xứ 

nắng đổ vàng rơi rụng xuống đồi


mơ giữa bạt ngàn màu áo trận

lô nhô trên ngọn sóng thời gian 

ngang trời bão nổi anh hùng tận 

mà nghe nhói  buốt suốt tâm can


tháng tư như một lời trăng trối 

thời gian in dấu, thoáng hồ như

vết sẹo chiến trường còn nhức nhối 

đôi vai người lính cũ mỏi nhừ 


vẫn nặng hành trang, không súng đạn

không còn áo trận với giày saut

tháng tư về lại trong cơn mộng

chong mắt đêm dài giữa hư vô


tôi đã cùng tháng tư mất ngủ

thao thức trong đêm muộn bàng hoàng 

nhủ lòng quên đi đừng nhớ nữa

dù gì lịch sử đã sang trang


tháng tư có những đêm mất ngủ 

ký ức về trong mắt đỏ lừ

thời gian đứng lại từ ngày ấy

đã chết cùng ba mươi tháng tư 


Mai Cao Nguyên

mnc 



30/4

Wednesday, April 27, 2022

NHỚ THẦY

 Nhớ Thầy Phan Hồng Lạc ( 1939-11/2/2022)


Thầy Phan Hồng Lạc, GS Hán Văn và Hướng dẫn thực tập, đã qui tiên. Hưởng thọ 84 tuổi. 

Thành kính tri ân và tưởng nhớ Thầy.

Hiệp lời nguyện cầu hương linh Thầy được siêu thăng miền Lạc Cảnh.


Thầy đã như mây trắng 

Bay về cuối trời xa 

Nhớ thầy bài chữ Hán

Viên ngọc bích họ Hoà 


Thầy là ngọc trong đá 

Phi thường trong tầm thường

Học trò thầy như ngọc 

Lưu lạc khắp muôn phương 


Thà làm viên ngọc nát 

Hơn là tấm ngói lành 

Nhớ lời xưa thầy dạy 

Thác vẫn còn tinh anh


Cánh Hồng giờ bay bổng 

Chim Lạc đã về trời 

Ngọc liên thành đâu nữa

Con nhớ thầy! Thầy ơi! 


Cao Ngọc Cường 



🙏💐💐💐


Thềm xưa...

Có còn vương vài sợi nắng,

Soi trên tóc đã phai màu?

Thầy bay theo vầng mây trắng...

Bận lòng chi, giấc chiêm bao! 

Nặng lòng chi đời bể dâu...! 

Phan thị Như Mai 


“Hoà thị chi bích”


Tin thầy Phan Hồng Lạc, giáo sư Hán văn của chúng tôi, các sinh viên Đại học Sư phạm Saigon qua đời đã làm tôi ngơ ngẩn, buồn bã suốt ngày!


Tôi biết thầy, lần đầu tiên, lúc vào vấn đáp. Sau khi đậu phần thi viết, anh chị em chúng tôi còn phải qua kỳ khảo hạch miệng. Thầy Lạc là một trong bốn giáo sư chấm thi chúng tôi hôm ấy. Thầy đưa cho tôi quyển Giảng văn và bảo tôi đọc to bài ca dao

“Bao giờ cho đến tháng Ba,

Ếch cắn cổ rắn tha ra ngoài đồng…”

Chỉ thế thôi. Thầy nhường phần đặt câu hỏi cho các thầy Phạm văn Đang, Lê hữu Mục và Lê hữu Khải. Tôi đã ra về, lòng thật buồn vì cầm chắc tương lai trở lại Văn khoa sau khi không chống đỡ được câu hỏi của thầy Khải” chị nói con cọp chờ đến đêm 30 mới vồ người à? Vậy bây giờ, ban ngày, chị vào rừng, gặp cọp, xem nó có vồ chị liền hay nó đợi đến đêm 30?” 


Nhưng trời thương kẻ khù khờ! Tôi cũng vượt qua được kỳ thi đó để cùng 38 anh chị em, vinh dự bước vào ngôi trường Sư phạm, tập tễnh sống đời phấn bảng.


Bán niên một, thầy Phan Hồng Lạc vừa là giáo sư Hán văn vừa là giáo sư hướng dẫn thực tập của chúng tôi, sinh viên Việt Hán một.


Bài Hán văn đầu tiên của thầy là”Hoà thị chi Bích”( viên ngọc của người họ Hoà), một bài học đã tạo cho tôi ấn tượng sâu sắc. Và không biết bạn nào trong lớp đã tặng thầy mỹ danh”Hoà thị chi bích “ và danh xưng đó chúng tôi vẫn giữ cho đến hôm nay khi nói chuyện về thầy. 


Những bài Hán văn tuy khó nhưng với riêng tôi, lại dễ chịu khi thầy tận tâm hướng dẫn sinh viên. Thầy trẻ và nhẹ nhàng trong cách giảng dạy nên môn Hán văn khó nuốt cũng bớt phần “hắc ám”!


Những giờ đi thực tập cũng vậy. Không biết các bạn tôi thì sao chứ riêng tôi thì căng thẳng lắm. Tôi sợ quá là sợ! 


Nhưng nhờ thầy, những lần thực tập sau, tôi đã bớt lo. Thầy dặn dò chúng tôi rất cẩn thận, cẩn thận từng chi tiết. Đối với các nữ sinh viên, thầy dặn đừng đi giày quá cao, sợ khi bước lên bục giảng, lúng túng sẽ… té! Và thầy cũng nhắc chúng tôi nhớ trang điểm nhẹ, nhất là nhớ đánh phấn hồng để che nét mặt xanh tái vì mất bình tĩnh! Bây giờ nhớ lại, tôi thấy thương thầy quá! Thầy thật tâm lý và lo cho học trò từng chút một!


Sau khi thực tập, phần nhận xét và cho điểm của thầy cũng nhẹ nhàng như tính cách của thầy. Thầy dịu dàng phân tích những ưu, khuyết điểm của chúng tôi và không bao giờ thầy nỡ xuống tay…!


Cuộc đời sinh viên của chúng tôi tưởng chừng sẽ êm đềm cho đến lúc ra trường. Nhưng không, định mệnh cay nghiệt đã phủ chụp lên toàn dân miền Nam vào ngày 30.04.1975!


Vận nước điêu linh!

Phận người tan tác!


Và giờ đây, sau bao cuộc biển dâu, thầy tôi cũng đã theo quy luật “sinh ký, tử quy”. Thầy ra đi!


Hòa thị chi bích của Việt Hán một, Thầy ơi!


Vũ Hoàng Hoa

San Jose, 12.02.2022


CHÚNG CON, CỰU SV ĐH SƯ PHẠM SÀI GÒN, KÍNH CẨN TƯỞNG NHỚ THẦY PHAN HỒNG LẠC ( 1939- 2022) CỰU GS TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM SÀI GÒN 🙏🙏🙏💐💐💐


Saturday, April 23, 2022

TIẾC XUÂN (hay ĐỒ MI HOA, ĐỒ MI MỘNG)






Hai câu trong truyện Kiều:

“Tiếc thay một đoá trà mi

Con ong đã mở đường đi lối về”

(Truyện Kiều, P 825 – 826)

Hai câu thơ thương hoa tiếc ngọc về nỗi đoạn trường của nàng Kiều này có bản viết là 

“Tiếc thay một đoá đồ mi

Con ong đã tỏ đường đi lối về”


Trong Cung Oán Ngâm Khúc của Nguyễn Gia Thiều cũng có đoạn tả cảnh nàng Cung nữ nhập cung được hưởng ơn mưa móc quân vương cũng qua hình tượng hoa, một đóa đồ mi trong 

“Cái đêm hôm ấy đêm gì?

Bóng dương lồng bóng đồ mi trập trùng 

Chồi thược dược mơ mòng thụy vũ 

Đoá hải đường thức ngủ xuân tiêu

Cành xuân hoa chúm chím chào 

Gió đông thôi đã cợt đào ghẹo mai...”

Nguyễn Gia Thiều (Cung Oán Ngâm Khúc) 


Vậy thì Trà mi với Đồ mi có là một chăng ?!


Sách bảo rằng Đồ mi, Trà mi là loài hoa nở vào đầu mùa hạ, sắc trắng hay hơi vàng, rất đẹp lại dễ rụng, thường ví với người con gái đẹp. 

Vì chữ “đồ” trong chữ Hán viết gần giống với chữ “trà”, cho người ta hay đọc lẫn là trà mi.

Sách còn giải thích rằng “trà mi” (茶縻) cũng đọc là "đồ mi" (荼縻). Theo Khang Hy và Hình âm nghĩa tổng hợp đại tự điển thì chữ trà xưa viết là 荼 (đồ). Chữ 荼 từ thời Đông Hán (25-220) trở về sau phiên thiết là "Trạch gia âm trà". Thời Lương (502-557) trở về sau cũng đọc là trà nhưng quên giảm đi một nét, vẫn viết là 荼 (đồ). Từ đời Đường (618-907), Lục Vũ soạn quyển Trà kinh mới giảm một nét để thành chữ 茶 (trà). Vì thế hai chữ đồ mi 荼蘼 vẫn thường đọc là trà mi. 

Tuy nhiên, tên gọi trà mi rất dễ gây nhầm lẫn do hiện tại nó cũng được sử dụng để chỉ một vài loài trong chi Trà (Camellia) của họ Chè” 


Vậy, thực tế trà mi và đồ mi là hai loài hoa khác nhau, đều hiện diện trong văn chương và đời thường. 


Sách cũng bảo trà mi hoa đẹp nhưng không hương, ngược lại đồ mi hoa mòng manh nhưng hương thơm. Cứ nghe vậy, tôi lại tưởng tượng và “cảm“ loài hoa có tên hai nốt nhạc”: Đồ Mi …hơn. 

Phải là hoa Đồ mi hương sắc mới diễn tả vẻ đẹp thuần khiết mong manh dễ vỡ của người con gái đẹp thời xưa. 


 Tôi cũng “Vì hoa nên phải đánh đường tìm hoa”.  Nhưng phải mất cả buổi, thay vì chỉ “trong vòng 2 nốt nhạc” mới biết thêm nhiều chi tiết lý thú về một loài hoa thơm hương này: đồ mi hoa. Rồi liên ý cảm hoài đồ mi mộng. 


Sách cũng cho rằng “Khai đáo đồ mi hoa sự liễu.” (唐詩: 開到酴醾花事了)(Đến khi đồ mi trổ bông thì việc của hoa đã kết thúc.) Ý là hoa đồ mi mà nở thì mùa Xuân đã tàn, đã hết. 


Câu này lấy trong  bài Xuân mộ du tiểu viên của Vương Kỳ (đời Tống) miêu tả hoa nở theo mùa thứ tự trước sau khi Xuân đến, bắt đầu từ hoa mai đến hoa hải đường và hoa đồ mi. Khi trăm hoa héo rụng cũng là lúc cây thiên cức đầy gai bò ra khỏi tường. Thời gian này chính là lúc cuối xuân đầu hạ. Bài thơ hàm ý thi nhân luyến tiếc thời gian, cảm thán tuổi xuân dễ qua đi.

Bài đó như sau: 


Xuân mộ du tiểu viên 

Nhất tùng mai phấn thoái tàn trang

Đồ mạt tân hồng thướng hải đường

Khai đáo đồ mi hoa sự liễu

Ti ti thiên cức xuất môi tường

Vương Kỳ (Tống thi) 


(Khi hoa mai rụng, giống như người đẹp đã tẩy hết lớp phấn son

Hoa hải đường nở, giống như người đẹp mới thoa lớp phấn hồng lên má

Và sau khi hoa đồ mi nở, hoa sự của mùa xuân coi như đã kết thúc

Lúc này chỉ còn cây gai bò ra khỏi tường rêu)


春暮游小园


一丛梅粉褪残妆

涂抹新红上海棠

开到荼蘼花事了

丝丝天棘出莓墙

王淇


Chiều xuân thăm vườn

Mai tàn như nét đẹp phai hương 

Hồng thắm nhường cho ngọn hải đường

Tươi đóa đồ mi, hoa đã tận

Chỉ trơ gai dại ở chân tường 

Cao Nguyên mnc dịch 


Đồ mi liên ý cảm hoài! tôi lại tâm viên ý mã đến “đồ mi mộng” (giấc mơ hoa ) trong Tiếc Xuân của Nguyễn Tử Thành, một nhà thơ đời Trần của nước ta, một bài thơ chữ Hán 


Tích xuân

Lão tận oanh thanh, điệp hựu tàn,

Hoa thần trước ý vị nhân khan.

Thanh hương bất nhập đồ mi mộng,

Cửu thập xuân tuỳ dạ vũ lan.

Nguyễn Tử Thành 


惜春

老盡鶯聲蝶又殘,

花神著意為人慳。

清香不入荼蘼夢,

九十春隨夜雨闌。


Dịch nghĩa

Tiếng oanh vắng hẳn, bướm lại tàn,

Thần hoa có ý xẻn với người.

Hương thơm không còn len vào giấc mộng đẹp,

Chín chục ngày xuân mòn mỏi theo giọt mưa đêm


Tôi tạm chuyển thành thơ ta: 


Tiếc Xuân 

Đã bặt tiếng oanh, bướm đã xa 

Lòng còn tiếc nuối ý thần hoa 

Hương thơm đã tắt trong mơ đẹp 

Mòn mỏi Xuân tàn mưa tối qua 

Cao Nguyên mnc dịch 


Ôi! Đồ mi hoa mong manh! Đồ mi mộng chóng tàn!

Thiệt là hoài cổ !

Để kết thúc giấc mơ hoa sáng nay tôi đi tìm lại Bích Khê của Tỳ Bà 

“Nàng ơi ! Tay đêm đang giăng mềm 

Trăng đan qua cành muôn tơ êm 

Mây nhung pha mầu thu trên trời 

Sương lam phơi mầu thu muôn nơi”

Đây là lần thứ nhất tôi biết bài thơ này khi lần theo dấu 


Đồ Mi Hoa 

Lòng nao nức như hương trầm mới dậy:

Gió tâm tư say chúi nửa lừng mơ...

Đêm kim sa hay sao mà run rẩy? -

Không khí men, trăng liễu mướt đường tơ.

Đây một đoá đồ mi, - ta đón lấy,

Ấp hồn hoa... đem đặt giữa bài thơ.


Đài nộn nhuỵ hoá nguồn trinh tinh khiết

Ướp một làn hương rượu quyện lâng lâng;

Tràng cánh trắng biến ra da thịt tuyết,

Một tiên nương mừa tựa một giai nhân,

Ngửng đôi mắt chứa mùa xuân phẩm tiết,

Giữa bài thơ... đưa vẳng tiếng ngân ngân.


Ôi sắc đẹp! anh hoa dồn vũ trụ!


Phẩm tràng sinh! tinh chất khí âm dương!

Mi làm long phím lòng muôn trinh nữ;

Muôn tài hoa nghiêng trước vẻ thiên hương.

Mi rớt ngọc cho vang muôn tình tứ;

Mi nhả sâm ngọt lịm vạn sầu thương.


Giai nhân đi trong chiêm bao ẻo lả

Để lời ca gợn sóng khí hoa men;

Tay búp sen kẻ lên vàng óng ả

Những đường thêu kim tuyến rúng đêm huyền.

-Ngừng hơi thở... ta nép trong bóng lá

Để vần thơ theo nhịp điệu thuyền quyên.


Ta những muốn sầu thương thôi biểu lộ

-Sắc trong màu, màu trong sắc; hân hoan...

Ta những muốn mùa đông nhường lại chỗ.

-Nhạc gầy hương, hương gầy nhạc; lan man...

Ta những muốn màn đen về cõi mộ

-Cả không gian là bể sáng tràn lan...


Rồi sắc đẹp hiện ra trong chính phẩm

Linh thiêng như mây nước đỉnh Nga My!

Và muôn hồn hoa lên vì say ngấm.

Và muôn lòng phát tiết cả uy nghi;

-Đêm nầy đây ngời ngọc ngà sa gấm

Sắc đẹp vừa hiện giữa đoá đồ mi


Bích Khê 


Cuối cùng 

Đồ mi hoa! Giấc mộng đã tàn 

Yêu hoa lại tiếc Đồ mi mộng

Theo dấu hài thơ mà tâm động

Tàn xuân chưa mà mộng mị lan man 


mnc 

22/4

Friday, April 22, 2022

Hoa Tử Đằng



 Đọc bài thơ Tử Đằng Thụ của Lý Bạch đã lâu nhưng chưa hình dung ra hoa  tử đằng ra sao ! Nay mới “nhìn” thấy hoa tử đằng trên “mây”.. thiệt là quá đẹp 

Đi tìm thêm mới biết tử đằng hoa tượng trưng cho tình yêu bất diệt, bên Nhựt Bổn gọi là hoa Fuji, cũng là danh hoa như Anh Đào hoa xứ Phù Tang vậy. 


Hoa Tử Đằng (tiếng Hán Việt nghĩa là “dây leo (hoa) tím”), hoa Fuji, hoa Wisteria.

Nghe nói ở Trung Quốc và Nhật Bản có những rừng hoa tử đằng đẹp mê hồn. 


Vì thế Lý Bạch thi tiên mới viết bài tứ tuyệt ngợi ca loài hoa tím này đây


紫藤樹


紫藤掛雲木,

花蔓宜陽春。

密葉隱歌鳥,

香風留美人。


李白


Tử Đằng Thụ  


Tử đằng quải vân mộc, 

Hoa mạn nghi dương xuân.

Mật diệp ẩn ca điểu, 

Hương phong lưu mỹ nhân.

Lý Bạch 


 Tử Đằng 

Tử đằng chót vót nhành mây 

Nở hoa lớp lớp phong đầy hơi xuân 

Tiếng chim trong lá xa gần 

Hương theo gió níu mỹ nhân quên về


Cao Nguyên 

mnc 


16/4


( Hình trên Net ở công viên hoa Ashikaga, Japan )

Thursday, March 17, 2022

 H O À I   N I Ệ M 

mnc 


“Tháng hai về trấn ven đô

Chong mắt hoả châu, giữ cầu.”

             (Phạm Văn Bình). 




Tháng hai về lại đường Mười Bốn 

Lệnh từ biên trấn giữ Chu Pao

Giữ cầu giữ lộ thông huyết mạch 

Để xuân về trong nắng xôn xao


Lính rừng nằm giữa rừng xanh lá 

Trong mắt thù giăng mắc tứ phương

Người dân khu chiến quen gian khổ 

Ngược xuôi tất tả dọc tuyến đường 


Bụi đỏ lầm lên theo con lộ 

Ghì tay súng, lính chẳng phân vân 

Bảo quốc an dân mà cố thủ 

Nơi nào có lính cũng có dân 


Trung đội hành quân lệnh mở đường

Hai bên lộ vắng cỏ mờ sương 

Mưa xuân thấm ướt vai áo trận 

Chập chùng rừng núi đến biên cương 


Đi về thường nhật quen chân lính 

Giữ cầu giữ lộ giữ đồn xa 

Dã quỳ lác đác vàng ven lộ 

Theo gió Xuân về đã nở hoa 


Quán lá ven đường tạm nghỉ chân 

Đường đèo hun hút buổi hành quân

Cuộc chiến cứ dài như quốc lộ

Núi rừng liệm kín tuổi thanh xuân 


Cô gái áo hoa cười lúng liếng

Như đóa lan rừng đứng kế bên 

Cũng chẳng nhớ người, không nhớ tiếng 

Lên đường, anh cũng chẳng nhớ tên 


Cũng cố tìm quên trong chiến trận 

Sáng dẫn quân theo lệnh mở đường 

Đi mãi đến sơn cùng thủy tận

Cầm canh chong súng gác đêm sương 


Cuộc chiến tang thương mà vẫn nhớ

Một thời binh lửa… có phôi phai  

Ngâm câu “quốc phá sơn hà tại” 

Mà nghe day dứt nỗi cảm hoài 


Tháng Hai 

mnc