Friday, March 19, 2021

TỐNG BIỆT


  “Ðãn khứ mạc phục vấn. 

   Bạch vân vô tận thì” (Vương Duy)

   (Bạn đi ta chẳng hỏi

    Đầy trời mây trắng bay) 



Tiễn người nghiêng chén rót về Đông

Rượu như sương tỏa ánh mây hồng

Cả một hoàng hôn trong hơi rượu

Ta tiễn người  đi ! Có buồn không 


Tiễn người nghiêng chén rót về Tây 

Mưa Tây Sơn! nước đã dâng đầy

Khà lên hơi rượu câu tống biệt 

Mà đôi mái tóc ngả mầu mây


Tiễn người nghiêng chén rót về Nam

Trời Nam cuồn cuộn sắc khói lam 

Bốn trời mờ mịt mây cố xứ

Dục phá thành sầu vẫn chưa tan


Tống biệt rượu nghiêng về Bắc phương 

Người đi một bước luống đoạn trường

Cười lên một trận buồn nghiêng ngả

Lệ phong kín nỗi, lệ như sương 


Đưa người rượu rót khắp tứ phương 

Màu men màu mắt rợn nghìn chương

Tiễn người!  ta tiễn ta ! luôn thể

Cười lên nghiêng ngửa cõi vô thường


Mai Cao Nguyên


3/19

Tuesday, March 16, 2021

Tống tăng quy Nhật Bản . Tiền Khởi, Đường Thi

  

送僧歸日本

上國隨緣住,
來途若夢行。
浮天滄海遠,
去世法舟輕。
水月通禪寂,
魚龍聽梵聲。
惟憐一燈影,
萬里眼中明。

錢起


Tống tăng quy Nhật Bản 


Thượng quốc tùy duyên trụ,
Lai đồ nhược mộng hành.
Phù thiên thương hải viễn,
Khứ thế pháp chu khinh.
Thuỷ nguyệt thông thiền tịch,
Ngư long thính Phạm thanh.
Duy liên nhất đăng ảnh,
Vạn lý nhãn trung min

Tiền Khởi


Tiễn sư về Nhật Bản 

Tùy duyên nơi thượng quốc
Như mộng thuận đường trôi
Biển xa trời mây biếc
Thuyền Pháp nhẹ xa khơi
Ý Thiền soi trăng nước
Lời Kinh cá lắng nghe
Chỉ một đèn một bóng
Soi thấu đến muôn đời

Cao Nguyên

Khê cư tức sự . Thơ dịch Đường thi

 


溪居即事

籬外誰家不系船,
春風吹入釣魚灣。
小童疑是有村客,
急向柴門去卻關。 

崔道融


Khê cư tức sự

Ly ngoại thùy gia bất hệ thuyền,
Xuân phong xuy nhập điếu ngư loan.
Tiểu đồng nghi thị hữu thôn khách,
Cấp hướng sài môn khứ khước quan.

Thôi Đạo Dung 


 

Cảnh  bên khe suối 

Thuyền ai ngoài giậu quên neo,
Gió xuân thổi dạt trôi theo vào đầm.
Trẻ con ngỡ khách đến thăm,
Chạy ra mở vội gióng then cổng rào.

 

Cao Nguyên  

 maingoccuong 

 

Thursday, March 11, 2021

QUYỂN SÁCH CHÉP TAY

Trần Duy Phiên 


1.

Một ngày làm cỏ mệt bở hơi tai, tôi vừa vác cuốc về tới nhà, thằng bé hàng xóm đang ôm vở chờ ở hiên.

- Có việc gì không cháu? -Tôi hỏi, lao cuốc vào bụi chuối sát hè.

Thằng bé ngập ngừng, theo tôi vào nhà.

- Cháu có điều không hiểu muốn chú chỉ giúp cho - Nó nói, ngồi xuống chiếc ghế con, mở vở đặt lên giữa hai bắp đùi - Câu này, chú à.... - Ngón tay lấm mực tè ra trên mặt giấy, nó ngẩng mặt nhìn tôi.

- Thì đọc to lên đi! - Đang thay áo bên trong liếp cửa, tôi giục, mình mẩy đang lúc rít rát mồ hôi.

- “Mai cốt cách, tuyết tinh thần” - Nó lại ngẩng mặt chờ tôi.

Tôi không thèm nhìn theo ngón tay nó nữa. Ba mươi năm trước, tôi đã thuộc nằm lòng. “Mai cốt cách, tuyết tinh thần. Mỗi người một vẻ mười phân vẹn mười”, hai câu thơ Đoạn Trường Tân Thanh hiện lên trong trí tôi rõ như hai người đẹp.

- Thúy Kiều, Thúy Vân đó mà! - Tôi cười, bước ra khỏi liếp cửa buồng kéo ghế ngồi bên thằng bé.

- Cháu cũng biết như thế - Nó lại ngước nhìn tôi, ngập ngần - Nhưng thưa chú... Nhưng mà... cái chữ “mai” này này!

Hiểu rõ yêu cầu của thằng bé, tôi giải thích:

- “Mai” ở đây là giống cây có hoa trắng hoặc vàng, ra bông vào độ cuối đông đầu xuân. Thơ biểu tượng, tác giả muốn ví von thân dáng mảnh khảnh của người đẹp như vóc mai khẳng khiu.

Thằng bé khẽ gật đầu, thỏa mãn, vui vẻ ra về. 

 

2.

Thằng bé ra về, tôi bắt đầu buồn bực...

Cũng như mọi người, lớn lên tôi đã cố học lấy một nghề mình yêu thích. Không tính tháng ngày lê la ở mẫu giáo và một vài năm thi cử lận đận, năm năm tiểu học, sáu năm trung học, bốn năm đại học, tôi ra trường làm nghề dạy học.

Đứng lớp, cầm phấn, kiếm sống bằng hơi sức chưa tới mươi năm, tôi đành thôi ngang... Tờ đơn thấm đẫm nước mắt xin nghỉ việc tôi gởi tận tay cha nó. Ngày ấy anh Hoàng vừa ở núi xuống, còn khỏe mạnh, giữ chức hiệu trưởng. Anh quản lý nhà trường như một chính ủy cầm quyền tư lệnh. Anh dồn dập rót vào đầu chúng tôi và buộc chúng tôi giội lên đầu học trò những tràng kế hoạch, phương án, biện pháp, triển khai, tiến công, quán triệt, khẩn trương, theo dõi, bám sát, truy diệt...

Về lớp, chúng tôi không thấy kẻ thù đâu cả, không biết trấn áp ai, thanh toán cái gì! Nhưng vì pháp lệnh, vì nghị quyết, vì chỉ thị... buộc giáo viên và cả học trò phải có thành tích báo cáo. Trước mắt, giáo viên chúng tôi sẽ được vào biên chế, được tiền thưởng cuối năm, may ra còn được xếp loại tiên tiến, hoặc xa hơn, đạt danh hiệu chiến sĩ thi đua. Giáo viên theo dõi, truy bức nhau, học sinh rình rập bới móc nhau, nghĩa là, từ thầy đến trò bằng cách nào đó phải nhanh chóng tạo ra kẻ thù và biến hắn thành nạn nhân rồi lên mặt góp ý xây dựng. Nhưng góp đâu chẳng thấy chỉ thấy tan, xây đâu chẳng thấy chỉ thấy đổ! Căng quá, bứt. Lương tri là loại đèn không cần năng lượng nào cả. Áo cơm cần nhưng không đủ mặn để muối mặt. Kiến thức cần nhưng không phải chỉ dùng ở nhà trường. Giáo viên lai rai bỏ nghề. Học sinh lả tả bỏ học.

Riêng tôi, ra đi không phải chỉ vì ngần ấy. Cũng như người thợ - coi trọng đồ nghề, giáo viên chúng tôi quý sách. Anh Hoàng truyền một lệnh từ trên xuống tịch thu sách báo đồi trụy. Bí thư chi đoàn cho người tới tận nhà tôi mang giúp hơn một ngàn quyển sách đến trường. Tôi rưng rưng xin anh Hoàng cho giữ lại một số thiết thân, cam đoan đây là những sách báo nghiêm túc dùng để tra cứu. Anh dửng dưng nhìn tôi với ánh mắt lạnh, ngấm ngầm răn đe. Uất ức đến đau tức lồng ngực, nhưng tôi câm lặng đứng nhìn. Hội trường biến thành nơi quy tập, sách báo ném vào tới tấp, un cao như một ngọn đồi. Đã mấy lần vuốt mặt, nước mắt vẫn dẫy tràn, sợ người ta phát hiện, tôi cúi mặt ra hiên, rồi lẳng lặng ra về.

Tuần sau, hội trường trống rỗng, sách báo đã được dọn sạch, chẳng sót một tấm bìa. Một nhân viên văn phòng cho tôi hay đa phần đã được chuyển ra chợ bán ký để người ta gói hàng. Một người khác còn cho hay, ngại lan tỏa nọc độc văn hóa đồi trụy, trước khi đem bán ông Hoàng đã cho thanh lọc thông qua nhãn mác sách và nhà xuất bản rồi đưa đi đốt ngay sau hầm cầu nhà trường. Trong số sách của mình, tôi tiếc thương bộ Larousse, bộ Bách khoa Số học, Sử ký Tư Mã Thiên, bộ tiểu thuyết Chiến Tranh và Hòa Bình của Léon Tolstoi, Anh em nhà Karamazov của Dostoievsky, toàn tập Đường Thi, Đạo Đức Kinh của Lão Tử, Nam Hoa Kinh của Trang Tử, bộ sưu tầm tranh thời Phục Hưng... và nhất là tập Đoạn Trường Tân Thanh của thi hào Nguyễn Du do thầy tôi chép tay bằng chữ Nôm cho tôi - món quà dành riêng cho đứa học trò cưng của mình.

 

3.

Sáng hôm sau thằng bé đến nhà tôi khi trời còn mù sương.

- Chú ơi! - Nó gọi lớn ngay từ ngoài ngõ.

- Gì đấy nữa? - Tôi bước ra hiên, cố dằn giọng cho bớt xẵng.

- Cháu mới đọc tờ báo này... - Nó bước vào, hai tay căng ra trước mặt tôi một trang báo. Đang cho nước vào bình, tôi xoay người cúi xuống. Thằng bé tỏ vẻ lo lắng -Tác giả bài viết này không giải thích như chú.

Nước đổ tràn lan, mắt tôi vẫn không rời những dòng chữ nhỏ như kiến. Tác giả bài này tự đắc phát hiện “mai” trong câu thơ này không phải là loại hoa cảnh, “mai” ở đây là một giống tre. Cơ sở đưa ra để phủ bác cách hiểu cũ là trích hai câu trong bài ca dao lính thú đời xưa.

- “Miếng ăn măng trúc măng mai, những giang cùng nứa lấy ai bạn cùng” - Thằng bé đọc lớn đoạn văn rồi nhìn tôi chờ đợi.

Trúc, mai, giang, nứa... đều là họ nhà tre. Tôi sinh ra ở Huế, lớn lên, đi vào thì có nhưng đi ra thì chưa. Cây mai tre tôi nào biết mô tê gốc ngọn, nhưng tổ tiên đã đưa vào ca dao kia mà! Cái gì mình không biết không phải nó không có. Ngày ở Huế, tôi chỉ biết tre trúc, tre hóp, tre mày, tre giáo, tre lồ ô, tre ngà, tre mỡ, tre gai, tre vàng... Lên Kontum, tôi biết thêm tre le.

- Cháu đã hỏi mẹ chưa?

- Rồi ạ, nhưng mẹ cháu không biết. Mẹ cháu dạy môn sử. Mẹ bảo cháu qua nhờ chú chỉ cho.

- Thế thầy giáo phụ trách bộ môn?

Nó đứng im lặng, hết gãi tai thì vò đầu. Bóng nắng vào sân. Công trồng là công bỏ, công làm cỏ là công ăn - bài học nghề mới của tôi. Nghĩ đến rẫy sắn đám khoai, cỏ dại đang theo mưa tranh đất, tôi nói:

- Cháu hỏi thầy giáo ngay đi! Phần chú, chưa biết phải giải thích thế nào cho ổn. Để khi thư thả, chú suy nghĩ, tra cứu lại.

Thằng bé ra về. Tôi hộc tốc vác cuốc qua ngõ, vừa đi vừa nhớ quyển sách của thầy tôi cho.

 

4.

Tôi đang ăn, thằng bé lại đến, đi thẳng vào nhà.

- Thầy giáo mắng cháu là thứ vớ vẩn, giáo khoa là pháp lệnh tại sao không chịu tin theo, không chịu tiếp thu, mà cứ nhong nhong bên ngoài, cuối năm thi rớt sẽ trắng mắt ra.

Tôi vẫn tiếp tục ăn. Nó kéo ghế ngồi bên cạnh, tỉ tê kể lại. Theo thầy giáo, “mai” ở đây là cây mơ, có nơi gọi là môi, quả nhỏ như táo Tàu, thường dùng làm kẹo - kẹo “ô mai” vừa ngọt vừa mặn vừa chua các em hay ngậm đấy! Thầy giáo cũng không vừa, dẫn chứng ca dao: “Trúc xinh trúc mọc bờ ao, mai xinh mai đứng chỗ nào cũng xinh”. Thầy còn lập luận, nếu Nguyễn Du dùng từ “mai” là mai tre, sao không viết “Tre cốt cách...” hoặc “Trúc cốt cách...” sẽ phổ cập và tạo biểu tượng gần gũi hơn. Nguyễn Du là một nhà thơ chứ đâu phải nhà sinh vật học chuyên sưu tầm giống cây quý hiếm. Vậy “mai” ở đây nhất định không phải mai tre.

- Cháu về học bài đi! - Cuối bữa, tôi nói - Cháu quá biết cả ngày hôm nay chú bám rẫy, không có thì giờ tra cứu mà cũng chẳng biết bàn bạc với ai!

Thằng bé về, tôi khoác áo đi ngay... Tôi chợt nhớ anh Phùng là một tay văn học lịch lãm, đáng bậc đàn anh của tôi. Sách không có, phải hỏi người, biết làm sao!

Đã tới lúc nghỉ ngơi nhưng anh Phùng vẫn vui vẻ đón tôi, sai con pha trà, rút ngăn kéo lấy ra mấy điếu thuốc thơm. Anh cũng khó khăn như tôi, thường hút thuốc rê. Có dịp, ai cho năm ba điếu anh dành lại, gặp bạn tâm đắc mới toài ra. Mồi thuốc xong, tôi vào đề ngay:

- Anh hiểu thế nào về từ “mai’ trong “mai cốt cách...”?

- “Mai” là một giống tre -Sau một lúc tập trung, anh thận trọng nói.

Tôi tạm đứng về phía đối lập - gom cả ý mình với lập luận của thầy giáo, phản bác anh tới tấp. Anh Phùng im lặng, xoắn xe từng sợi tóc bạc giữa mấy ngón tay khô khốc. Đã quen phong thái trầm tư của anh mỗi khi gặp chuyện khó khăn, tôi nhâm nhi trà và thả hồn theo khói thuốc. Tới lúc bình trà cạn, anh nói:

- Các cụ ta ngày xưa không đề cao cây mai cảnh bằng cây mai tre. Họ nhà tre là biểu tượng của quân tử. Tiết trực tâm hư - Anh khẽ cười - Nếu con chim sẻ đậu trên cành mai cảnh, chắc hẳn quan trạng Mạc Đĩnh Chi không việc gì mà phẫn nộ, và quan khâm sứ của ta khó mà có đủ chứng lý để hàng phục danh sĩ Trung Hoa - Anh lại cười - Từ Huế trở vào người ta quí cây mai cảnh, trở ra, người ta chỉ trọng đào. Đừng quên Nguyễn Du sinh ra và lớn lên ở Tiên Điền, Hà Tĩnh - một vùng đất phía bắc của tổ quốc.

- Nhưng biết đâu? - Tôi liền nhẹ nhàng đặt nghi vấn - biết đâu Nguyễn Du viết Đoạn Trường Tân Thanh khi đã theo Gia Long vào Huế làm quan?

Anh Phùng cau mặt ngồi im. Trời trở lạnh, tôi ra về. Đây là lần đầu tiên tôi cầu cứu mà chẳng nhận được từ anh Phùng một trợ giúp nào. Đêm nay chắc cả hai chúng tôi đều mất ngủ. Lao lực như nông dân, lao tâm như học giả, là thế sống thua thiệt nhất của những ai đang là trí thức xã hội chủ nghĩa. Biết thế, nhưng tôi đã lỡ mang nghiệp vào thân.

  

5.

Thằng bé để yên cho tôi dăm ba hôm rồi quay lại.

- Chú đã tìm giúp cháu được chưa? - Nó hỏi, tôi lắc đầu - Vậy bây giờ làm sao hở chú?

- Có một cách... - Tôi chợt im, xoay mặt hướng khác. Thằng bé dịch chuyển theo, mắt môi hong hóng nhìn lên - Nhưng... -Tôi vừa cất cao giọng, lại uất nghẹn tắc tị ngay.

- Nhưng là nhưng thế nào? Chú nói đi!

- Chú có một quyển sách -Tôi lập chập ngồi vào bàn - Chính xác, chú có một quyển Đoạn Trường Tân Thanh chép tay bằng chữ Nôm - thứ chữ mà Nguyễn Du dùng để viết nên tác phẩm ấy. Chỉ việc mở ra, cúi xuống... Nếu “mai” là mai tre, trên đầu phải có bộ trúc. Nếu “mai” là mai cảnh, ở bên phải là bộ mộc...

- Vậy chú còn chờ gì nữa? - Nó háo hức ngắt lời.

- Nhưng cha cháu đã tịch thu và đã đốt lâu rồi!

Thằng bé ấm ức cúi mặt. Tôi ngồi lặng thinh.

 Trần Duy Phiên 

 (Kontum. 1989)

Tuesday, March 2, 2021

Một bài thơ vô danh hay trong mùa đại dịch Covid 19

Trong mùa đại dịch Covid 19 các hoạt động của chúng ta cũng bị ảnh hưởng, thời gian gần đây tình cờ tôi đọc được một bài thơ Anh ngữ rất hay, do một người bạn chuyển tiếp, nhưng không có tên tác giả. 

Có thể là một ai đó vô tình hay cố ý không ký tên vì chẳng ai sở hữu gì trong cái thế giới đang bị dịch bệnh hoành hành này:


"We fell asleep in one world, and woke up in another.

Suddenly Disney is out of magic,

Paris is no longer romantic,

New York doesn’t stand up anymore,

The Chinese wall is no longer a fortress, and Mecca is empty.

Hugs & kisses suddenly become weapons, 

and not visiting parents & friends becomes an act of love.

Suddenly you realize that power, beauty & money are worthless, and can’t get you the oxygen you’re fighting for.

The world continues its life and it is beautiful.

It only puts humans in cages.

I think it’s sending us a message: You are not necessary. 

The air, earth, water and sky without you are fine. 

When you come back,

remember that you are my guests. Not my masters.”


"Bao nhiêu thành phố rộn rịp, náo nhiệt khi mọi người đi ngủ rối thức dậy không một bóng người, bóng xe, không một tiếng động? 

Đâu rồi cảnh giới thần tiên của địa đàng Disney? 

Paris đã hết nên thơ, và New York không còn sừng sững thách thức nữa. 

Vạn Lý Trường Thành thôi là pháo đài đồn lũy và thánh địa Mecca hoàn toàn hoang vắng.

Ôm nhau, hôn nhau bỗng trở thành nguy hiểm. 

Con cái không thăm viếng cha mẹ, bạn bè không thăm viếng nhau là bày tỏ tình yêu.

Trong thoáng giây, người ta ngộ ra quyền lực, nhan sắc và của cải đều vô nghĩa, không thể đánh đổi dưỡng khí cho buồng ngực thoi thóp kêu đòi.

Thế giới vẫn tiếp tục sinh tồn và đời vẫn đẹp, chỉ là con người bị giam giữ trong những cái lồng.

Tôi nghĩ có một thông điệp cho chúng ta: 

Loài người không cần thiết. 

Bầu trời, quả đất, sông biển vẫn an nhiên không cần con người có mặt. 

Nếu có khi nào tái sinh, hãy nhớ con người là khách, không là chủ nhân của vũ trụ này"


Tạm dịch qua thơ lục bát Việt Nam :


Chúng ta thiếp một giấc say  

Tỉnh ra...thế giới đổi thay khác liền 

Disney hết vẻ thần tiên 

Paris lãng xẹt  vô duyên thế nào 

Nữu Ước hết nét tự hào 

Trường thành Vạn Lý nhỏ sao nhỏ là 

Hoang vu thánh địa Mecca

Ôm hôn âu yếm cũng là hiểm nguy

Đừng thăm viếng, cũng đừng đi 

Cha mẹ con cái giờ thì cách xa 

Đột nhiên bạn tỉnh ngộ ra 

Bạc tiền nhan sắc chỉ là phù vân 

Danh vọng quyền lực tan dần 

Chỉ còn dưỡng khí là cần thiết thôi 

Khi hai lá phổi kêu đòi 

Máy thở cho sự sống hồi sinh thôi 

Thế giới tiếp tục sinh sôi 

Cuộc sống vẫn đẹp như hồi  nguyên sơ 

Chỉ loài người sống ơ thờ 

Trong chiếc lồng hẹp để chờ chết thôi 

Thông điệp gửi bạn và tôi : 

Chẳng cần thiết phải sinh sôi loài người 

Không khí,  đất, nước, bầu trời

Vẫn luôn tươi đẹp như thời lập thiên..

Khi bạn trở lại bình yên 

Xin bạn hãy nhớ đừng quên mấy lời: 

Vũ trụ không của con người 

Ta chỉ là khách trọ nơi đất trời 


Qua cơn đại dịch....bạn ơi 

Tìm về Nguồn Thật  muôn đời an vui. 


Cao Nguyên mnc 



BÀI THƠ CUỐI NĂM


Cuối năm, ngồi uống rượu một mình

Chờ một mùa xuân sẽ tái sinh

Trầm ngâm đối bóng trên trang ảo

Như đêm dài đợi ánh bình minh


Uống rượu cũng chỉ là cái cớ

Trải lòng trên giấy trắng đêm nay

Chưa uống đã nghe lòng trăn trở

Hững hờ ly rượu ấm trên tay


Sóng sánh rượu lên màu hổ phách

Thoáng nghe văng vẳng tiếng sênh ca

Mấy chục năm dài thân ly khách

Một hôm bỗng lại nhớ quê nhà


Trầm ngâm bên rượu không ai phạt

Tháng lụn năm tàn lay lắt lay

Rượu không bằng hữu e chừng nhạt

Muốn say cũng khó một mình say


Bằng hữu cách xa vài vạn dậm

Thôi thì đối ẩm mở Face time

Nâng chén chào năm cùng tháng tận

Đón cái tuổi già cũng hết ham


Càng già ta lại càng hay rượu 

Uống vào lại nhớ bạn hiền xưa 

Tú Xương xưa chỉ ba thứ khoái 

Ta giờ nhiều thứ khoái không chừa


Uống vào thơ lại ra vung vít

Bằng hữu góp vào đến muôn chung

Gươm cùn, giày cỏ lê mòn gót 

Ngỡ mình là thứ Lệnh Hồ Xung


Chánh tà hai phái vui bằng thích

Ba hoa miệng lưỡi nói lung tung

Đối ẩm cùng sầu đêm trừ tịch

Nhìn ta sao giống một lão khùng…


Cao Nguyên

30 tháng Chạp

Monday, March 1, 2021

GẶP LẠI THẦN THÁP RÙA

  Nhớ Thầy Vũ Khắc Khoan 







Trưa thứ Bảy 27/2 tôi tình cờ đến giúp một người bạn dọn dẹp những món lặt vặt nơi căn nhà của bạn vừa bị thần hỏa viếng trong những ngày Tết vừa qua. Trong đống xà bần vật dụng áo quần sách vở tranh ảnh... ẩm ướt cháy lem nhem bụi tro nám khói sau cơn hỏa hoạn, nhưng tượng Quan Âm gỗ mun và Đạt Ma Sư Tổ khắc bằng gốc tre già trong đống cháy vẫn còn nguyên vẹn (chỉ bị dính bụi tro đen nhẻm) như là một điều kỳ diệu. 

Điều kỳ diệu thứ hai là... đống hỗn tạp ấy tôi lục ra một số đồ quý mà thần hỏa chưa kịp chiếu cố nhưng bà thủy đến kịp thời lại làm ướt lem nhem, có vài cuốn sách ngày trước tôi đã từng đọc và nghiền ngẫm, trong đó có quyển Đôi Bạn Chân Tình của Hermann Hesse ( Nhà Ca Dao xb 1969) và Thần Tháp Rùa của Vũ Khắc Khoan (Ngàn Lau tái bản 1983 theo mẫu bìa nguyên thủy của Mặc Đỗ). Hốt nhiên tôi rung động trong lòng vì quyển sách cũ này của Kịch tác gia Vũ Khắc Khoan, Ông là thầy của tôi năm đầu ban Văn Chương Việt Nam tại Đại Học Văn Khoa Sài Gòn đầu thu năm Tân Hợi. Tuy đã từng đọc và ngưỡng mộ ông và phần lớn tác giả nhóm Quan Điểm, Sáng Tạo ... nhiều năm trên ghế Trung học nhưng khi la lết trên hành lang các Giảng đường Văn Khoa, Sư Phạm Saigon tôi mới gặp được ông Thần Tháp Rùa Vũ Khắc Khoan bằng xương bằng thịt. Mái tóc muối tiêu bồng bềnh, dáng vẻ nghệ sĩ, ông đến trường bằng xe xích lô đạp. Trong khi đám sinh viên cần mẫn chân chỉ hạt bột đến thật sớm và chiếm nhiều hàng ghế “ngon lành” trong đại giảng đường mênh mông, thì tôi và đám bạn “lè phè” chỉ đến trường trước quý Thầy vài phút, đứng bên ngoài hành lang tán gẫu, phê vài hơi thuốc và ngắm gái, nên mới thấy Đại Hãn thầy tôi ( Vũ Khắc Khoan có viết vở kịch Thành Cát Tư Hãn) bước xuống xích lô vào thẳng giảng đường với lũ sinh viên học trò đang đợi. Điếu thuốc bốc khói luôn luôn trên tay ông, điếu này nối điếu kia suốt trong các giờ giảng. Và chỉ là Bastos De Luxe mà thôi, như một ống khói tàu hỏa. Thầy giảng những gì thì tôi chẳng hề biết và chẳng hề nhớ . Sinh viên thì đông, cái micro và mấy cái loa giảng đường rè rè nghe phát mệt và đám lè phè chúng tôi đứng từ xa chỉ mải ngắm cái nhân dáng nghệ sĩ của ông Thần trong đám khói thuốc Bastos. 

                                                               Kịch tác gia Vũ Khắc Khoan
                                                                              1917-1986

     

Cours của quý thầy in ra, tôi chỉ đọc qua loa đúng như thầy dạy “Phùng Phật, sát Phật” ...”tận tín thư bất như vô thư” chỉ chăm chú vào mấy tập truyện mấy vở kịch lộng ngôn của sư phụ mà cũng may chưa rớt năm nào. 

Hôm nay, tình cờ “nhặt” được ngọc quý Ông Thần Tháp Rùa trong đám tàn hương nhà cháy thật mừng như tha phương ngộ cố tri. 

Nhớ câu dạy của cha tôi ngày xưa: 

“Đọc sách phải quý sách

Sách vở giữ cho sạch 

Quý sách phải yêu sách

Nhớ đừng để làm rách”

Đêm qua được bạn cho phép mang “bảo vật” về nhà , phủi bụi sấy khô và ngồi đọc lại Thần Tháp Rùa mà nhớ Thầy Vũ Khắc Khoan của chúng tôi. Trong truyện có một đoạn làm tôi nhớ lại chuyện phần thư đốt sách của bọn “đỉnh cao trí tuệ” ngu xuẩn của “bên thắng cuộc” sau 75 tại miền Nam yêu dấu mà đau xót lòng. Nó khác gì “phần thư, khanh nho” thời Tần bạo chúa bên Tầu mà Vũ Khắc Khoan đã thác lời 

 «Đốt được nhà, nhưng sao đốt được sách ? Chàng còn nhớ cuộc phần thư thủa bắt đầu xây dẫy Trường thành? Càng đốt sách, nghĩa của chữ lại càng trong trẻo, dễ vút lên cao, dễ lan ra rộng... Họ Tần đốt sách Khổng Khưu, vậy mà cái lý Tam Cương của người nước Lỗ đâu có bị hoả thiêu cùng sách ?» ( Thần Tháp Rùa, trang 37, Vũ Khắc Khoan)

Ôi! Từ chuyện nhà (người bạn bị) cháy đến chuyện được sách như một cái duyên, hay chỉ là một “cái cớ” như lời Thầy Vũ Khắc Khoan  đã làm tôi nhớ lại kỷ niệm với Thần Tháp Rùa ngày trước cho đến hôm nay 

“ .... nhưng kết cục, chàng lại thấy em, giữa đống tro tàn. Em là của chàng...”( Thần Tháp Rùa ) 

Thư trung hữu nữ nhan như ngọc là đây ...


Xếp quyển sách cũ tôi đi tìm lại Vũ Khắc Khoan trên mạng lưới toàn cầu  :

“ Vũ Khắc Khoan, Kịch tác gia Văn học Việt Nam, sinh ngày 27/02/1917 tại Hà-nội, là học trò trường Bưởi. Lên đại học, theo ngành y khoa hai năm, trước khi vào trường Cao đẳng Canh nông. Sau khi tốt nghiệp, làm kỹ sư canh nông được một năm rồi chuyển hẳn sang nghề dạy học, dạy lịch sử tại hai trường Nguyễn Trãi và Chu Văn An, Hà-nội, và hoạt động kịch nghệ, viết văn, thành lập nhóm Quan Điểm với Nghiêm Xuân Hồng... giáo sư Đại Học Văn Khoa & Đại Học Sư Phạm Sai Gon ....Và mất ngày  12 tháng 9 năm 1986. “


Ôi! Lại nữa kỳ lạ thay , tôi gặp và đọc lại quyển sách cũ này đúng ngày 27/2/ 2021 cũng là ngày sinh của Vũ Khắc Khoan, Ông Thần Tháp Rùa, thầy học cũ của tôi. 


Thưa Thầy! Con viết mấy dòng ngắn này để nhớ đến Thầy, Ân sư trong đời! 


Cao Ngọc Cường 

Khuya 27 tháng 2