Friday, February 19, 2021

MỘT BÀI THƠ NỬA NẠC NỬA MỠ

 “Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai” 

Sớm nay ngồi bâng quơ nhìn ra ngoài song cửa, chợt thấy cây đào đã nở hoa trước sân nhà. 

Ừ nhỉ! “Đào hoa y cựu tiếu đông phong!“ Trời sắp Tết nhưng lòng mình chưa Tết, thì hoa đào đã nhắc chừng kẻo lại quên. 

Mỗi năm cứ đến Xuân đến Tết. 

Lòng lại bâng khuâng nỗi nhớ nhà. 

Quê người tháng tận rồi năm hết. 

Ngồi trong nhà mà dạ nhớ quê xa ... 

Cây đào trước ngõ hoa lại nở, 

Đào xứ Huê Kỳ cũng báo Xuân. 

Xuân khứ Xuân lai Xuân bất tận. 

Để lại lòng ta chút bâng khuâng. 

( thơ Mai Cao Nguyên) 

Nhìn hoa lại chợt nhớ câu thơ “ nửa nạc nửa mỡ” tương truyền của vua Tự Đức, ông hoàng sính thơ của triều Nguyễn: 

“Dã ngoại đào hoa lấm tấm khai” 

(Ngoài trời hoa đào đã nở lấm tấm) 

Dân làm thơ đã hay huống gì là vua!

Ai mà dám cả gan chê hay “bình lựng” thơ của vua nhỉ, nhất là vua Việt Nam - một “cường quốc thơ ca” như lãnh đạo nào đó đã “ngôn” một cách huênh hoang, tự hào và trí tuệ - 

Câu thơ “dã ngoại ... “ trên chỉ có cái lạ là có hai chữ Nôm “lấm tấm” quê mùa nằm lẫn trong 5 chữ Hán “cao quý” vào cái thời Hán tự còn độc tôn trong cung đình và khoa cử Việt Nam. 

Vua khoe (hơi nổ 1 tí) với đám quan lại trong buổi triều là đêm qua vua được thần nhân báo mộng cho 2 câu thơ (nửa nạc nửa mỡ) độc đáo vô cùng: 

“Viên trung oanh chuyển KHỀ KHÀ ngữ

Dã ngoại đào hoa LẤM TẤM khai” 

Hai câu thơ “thần” ấy là thơ thất ngôn với 5 chữ Hán và 2 chữ Nôm trong mỗi câu. Một kiểu thơ “cách tân”(cỡ “1-2-3” hiện nay) trong cung đình thời ấy, nếu dịch ra Việt ngữ thì là 

Trong vườn tiếng chim oanh “khề khà” 

Ngoài sân hoa đào nở “lấm tấm” 

Thơ của vua làm cả triều thần tấm tắc khen lấy khen để. Bỗng có một anh tiểu quan dám cả gan đứng lên thưa rằng hay thật là hay nhưng hai câu thơ ấy thần đã nghe qua cách nay khá lâu trong quyển nào đó mà tức thì thần chưa nhớ ra ...

Ậy ậy! Gã quan nhỏ nào đó uống mật gấu hay sao mà ngôn khinh xuất đến thế dám chê vua “thuổng” thơ thiên hạ vậy cà. Té ra ảnh là Cao Bá Quát “ Thần Siêu Thánh Quát” đây mà. 

Đương sướng, vua bỗng tự dưng cụt hứng ngang, tuy giận lắm, nhưng cố nén lòng bảo Cao Bá Quát :  nếu ngươi đã nói vậy thì thử đọc hết bài thơ cho ta nghe xem sao. Ý vua là nếu Cao  ấm a ấm ớ sẽ bị trị tội khi quân cho hết “thánh” ngôn. 

Rồi sao nhỉ !? Cao Chu Thần nhà ta giả ngộ moi trí nhớ vài giây rồi đằng hắng đọc một mạch nguyên bài thơ thất ngôn bát cú bằng Hán văn nhưng câu nào cũng có hai chữ Nôm “na mách qué” (in hoa) trong bài thơ như ri : 

Bảo mã tây phong HUYẾCH HOÁC lai

HUYÊNH HOANG nhân sự thác đề hồi

Viên trung oanh chuyển KHỀ KHÀ ngữ

Dã ngoại đào hoa LẤM TẤM khai

Xuân nhật bất văn sương LỘP BỘP

Thu thiên chỉ kiến vũ BÀI NHÀI

KHÙ KHỜ thi tứ đa nhân thức

KHỆNH KHẠNG tương lai vấn tú tài

Dịch nghĩa:

Ngựa báu theo gió tây HUYẾCH HOÁC lại

Người HUYÊNH HOANG tự theo quay về

Trong vườn tiếng oanh hót nghe KHỀ KHÀ 

Ngoài đồng hoa đào nở LẤM TẤM 

Ngày xuân chẳng nghe sương rơi LỘP BỘP

Trời thu chỉ thấy mưa BÀI NHÀI

Câu thơ KHÙ KHỜ đã nhiều người biêt

Còn KHỆNH KHẠNG đem hỏi tú tài.

Dịch thơ:

Ngựa hay HUẾCH HOÁC theo gió Tây

Có kẻ HUÊNH HOANG tự đến đây 

Oanh hót KHỀ KHÀ trong lá biếc

Đào bung LẤM TẤM giữa đồng cây 

Sương gieo LỘP BỘP  ngày Xuân ấy 

Mưa trút BÀI NHÀI sợi thu bay 

Thơ quá KHÙ KHỜ ai cũng biết 

KHỆNH KHẠNG  đem ra hỏi Tú này

(cao hậu bối tui dịch đại )

Vua và triều thần nghe qua rất phục nhưng Tự Đức cũng thần biết là mắc lỡm Huấn Cao nhưng phục tài nên bỏ qua chuyện thơ xạo này. 

Thần Siêu Thánh Quát ngày xưa là vậy đó... nhưng các bậc vương đế hay thơ trong lịch sử như Lê Thánh Tôn, Tự Đức xưa cũng chưa dám huênh hoang tự hào là CƯỜNG QUỐC THƠ như thời nay, tuy nước ta có một nhà thơ lợn là nhà Thơ BÃ CHÓ  ưu việt, có 102 trong lịch sử thơ ca thời cận hiện đại sống mãi trong sự nghiệp nước nhà.

Lung tung lang tang trong “cường quốc thơ” đôi ngày cận Tết

4/2/21 

cao hậu bối

Bài hành NHỚ MÙA XUÂN XƯA

Bài hành cuối năm ta 

(Gửi Hoan Tran Ngoc)


Chiều cuối năm nhớ bạn phương xa 

Mây khói đùn lên nỗi nhớ nhà 

Nhớ lại một thời chinh chiến cũ

Ngày Xuân đồn vắng tiếng chim ca 

Quanh kẽm gai giăng, rừng xanh lá 

Ngày lại ngày, năm tháng dần qua 

Núi cao lũng thấp mù sương lạnh

Đi kích đêm nằm gác tuyến xa

Hố cá nhân chôn đời trai trẻ

Chong súng đêm ghìm những bóng ma

Ngày lên quanh quất rừng và núi 

Xuân về cây cỏ vẫn ra hoa 

Đạn bom dẫu xé toang trời đất 

Dẫu xé lòng người cuộc can qua 

Cỏ cây Xuân lại lên mầm sống 

Bám trên đất khổ ... cứ như là 

Chưa hề có tang thương ly biệt 

Và lòng người vẫn luôn thiết tha

Dù sống cận kề bên cái chết 

Cứ nuôi hy vọng ... cứ thế mà 

Để sống từng ngày cùng chia lửa

Đời trai chinh chiến giữ sơn hà 

Và bạn ... bạn đã làm ta nhớ 

Những chiều cuối năm nơi chốn xa 

Nhớ ngày Xuân lạnh trên đồn vắng 

Nơi từng in dấu chân chúng ta 

Thôi viết đôi dòng thơ gửi bạn 

Và gửi về thêm nỗi nhớ nhà 

Gửi nhớ thương về rừng núi cũ 

Mùa Xuân thao thức tiếng oanh ca 

“ Nếu mai không nở anh đâu biết 

Xuân về hay chưa ...” nơi đồn xa 

Chia hơi thuốc ấm đêm trừ tịch 

“Không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”

Chiều cuối năm nhớ về phố núi

Lạnh giá cao nguyên nhớ nhớ là ... 


        Mai Cao Nguyên

        (30 tháng Chạp cuối năm ta)  


Đọc lại “ Ngày Xuân Uống Rượu” Thơ Nguyễn Đức Lập


ĐỌC LẠI “CHÉN RƯỢU MỪNG XUÂN”  NHỚ ANH NGUYỄN ĐỨC LẬP 


    Sáng mùng Ba, vẫn dậy sớm theo thói quen cố hữu, đọc lại (và họa nguyên vận) bài thơ của anh Nguyễn Đức Lập (1945-2016), nhà văn, trưởng Hướng đạo với tên rừng Sóc Vui Vẻ của chúng tôi. 

   Đó là bài thơ duy nhất của anh mà tôi còn lưu giữ trong hơn 20 tác phẩm văn xuôi của anh.

   Anh Lập chỉ viết văn khi từ khi tỵ nạn tại Palawaan những năm đầu thập niên 80 và bài Chén rượu mừng Xuân của anh in trong Những Đêm Không Ngủ, tập thơ duy nhất của anh viết trong “Khung rào tỵ nạn..” những năm ấy tại những trại tạm cư ở Phi Luật Tân, nơi  ba năm Nguyễn Đức Lập chôn chân nơi đó, như quãng đời một tráng sĩ bị bó tay trong vòng rào hẹp mà nung nấu tâm can hào khí muốn cứu vãn quê hương đang trong gông cùm giặc nước.

Bài thơ Nguyễn Đức Lập phảng phất phong thái những bài Hành của Thâm Tâm, Nguyễn Bính ... đọc lại vẫn cảm thấy đầy hào khí bi tráng và thê lương như tấc lòng anh nung nấu “muốn làm một cái gì” cho đất nước quê hương nhưng vẫn chưa hoàn thành tâm nguyện đó cho đến cuối đời. 


Bài thơ duy nhất của anh Nguyễn Đức Lập mà tôi được biết, vẫn còn lưu giữ trong Notebook  như một kỷ niệm với anh, tình cờ lại hiện ra trong những ngày Xuân tái đêm qua khi ngồi uống chén rượu đầu năm những người bạn, người em hướng đạo của anh Lập ... chúng tôi đã đọc lại mà nhớ anh - Anh Sóc Vui Vẻ Nguyễn Đức Lập - cũng gần đến ngày giỗ của anh, anh mất vào cuối tháng Hai năm nhuần 2016. 

Mời quý bạn đọc nhân dịp đầu Xuân.


Chén rượu mừng Xuân


Chén rượu xoàng đây ta mời ngươi

Cháy gan cháy ruột ngửa nghiêng cười

Người đời xanh mắt thời tao loạn

Tìm kiếm chi cho chán mớ đời?


Hiền sĩ ngày xưa ngồi góc núi 

Pha trà nước suối, ngâm thơ chơi 

Hay say giữa chợ lan man khóc 

Sụ nghiệp không đầy bát rượu vơi. 


Hoành kiếm nhơn nhơn nhìn thế cuộc 

Giận thân râu tóc chẳng phùng thời 

Đập bàn hát loạn dăm ba khúc 

Hào khí bay lên vút tận trời.


Ngươi có thấy không, hào kiệt trước 

Nuốt trời, mửa đất há nhường ai?

Cát lầm chẳng để sờn mơ ước 

Cũng đã bao phen sóng dập vùi. 

Thiên hạ khó dung người chí lớn 

Dặm trường ngựa thét muốn mòn hơi 

Mỉa mai cho những cơn thành bại 

Cuồn cuộn sông dài nước chảy xuôi.


Cũng có người xưa, người Đỗ Mục 

Buồn thương nhân sự, tiếc hoa rơi 

Hay như gã Tín Lăng Quân đó

Mộng lớn tàn bên gái tuyệt vời

Họ Khuất trầm mình sông Mịch Thủy

Góp cho nhân thế tiếng than ôi 

Tử Tư đầu bạc băng qua ải 

Để lại thiên thu tiếng thở dài.


Chén rượu xoàng đây, ta mời ngươi 

Khung rào tỵ nạn có chi vui 

Chim hồng xếp cánh khinh trời hẹp 

Nhìn lại thân ta, xót chuyện người.

Nguyễn Đức Lập

(Những Đêm Không Ngủ)


Dậy sớm đọc lại thơ anh và nảy ý họa nguyên vận bài thơ của anh Nguyễn Đức Lập như một nên tâm hương nhân ngày giỗ Anh cuối tháng này: 


Ngày Xuân đọc lại thơ anh Nguyễn Đức Lập 


Tha phương lữ thứ, ta với ngươi

Bầm gan, tím ruột bậm môi cười 

Xuân đến không mời nhau chén rượu 

Mà làm chi để hết nửa đời 


Quán xá cũng không .... mùa dịch bệnh!

Góc vườn ngồi đốt lửa mà chơi

Ngày Xuân đất khách buồn không nói 

Rượu rót chén đầy lại chén vơi


Cứ gượng mà vui như Lã Vọng 

Buông câu thẳng lưỡi để chờ thời 

Mòn hơi ... mà lão lai tài tận

Ngửa cổ mà tu .... ấy mệnh trời! 


Ngươi cũng như ta nhà quanh xóm 

Mấy chục năm dài chẳng bằng ai 

Nhưng có cái chẳng ai bằng được 

Ăn hòn nói cục chẳng giấu vùi 

Xó núi vẫn thường ra cắm trại 

Ven rừng đốt lửa khói lên hơi 

Buồn tha hương cũng dần phai nhạt 

Nước mắt lần hồi cũng chảy xuôi 


Cứ ngỡ sẽ quên buồn xưa ấy

Ai ngờ chiều chậm cuối năm rơi 

Nâng chén mừng Xuân, Xuân viễn xứ 

Cố hương, cánh hạc vút xa vời 


Xuân này con lại không về được 

Quê nhà xa ngái ! Mẹ quê ôi! 

Phương này Xuân tái mùa Xuân lại 

Phương ấy còn ai tiếng thở dài 


Tha phương viễn xứ ta với ngươi 

Xuân về hoang lạnh giọt buồn vui

Ly rượu đầu năm nghe mằn mặn

Đọc lại thơ xưa lại nhớ người 


Cao Ngọc Cường 

Mùng Ba Tết Tân Sửu  


(Gửi Nguyen Cao Binh)

Thursday, January 7, 2021

 MỘT CHỮ MAI 

Trong bài thơ chữ Hán của Nguyễn Du “ Vọng Thiên Thai Tự “ 


望天台寺 


天台山在帝城東,

隔一條江似不通。

古寺秋埋黃葉裏,

先朝僧老白雲中。

可憐白髮供驅驛,

不與青山相始終。

記得年前曾一到,

景興猶掛舊時鐘。


阮攸


Phiên âm:


 VỌNG THIÊN THAI TỰ


Thiên Thai sơn(1) tại đế thành đông

Cách nhất điều giang tự bất thông

Cổ tự thu mai hoàng diệp lý

Tiên triều tăng lão bạch vân trung

Khả liên bạch phát cung khu dịch

Bất dữ thanh sơn tương thủy chung

Ký đắc niên tiền tằng nhất đáo

Cảnh Hưng do quải cựu thời chung.


----------- 

(1) Núi Thiên Thai ở phía Đông thành Huế.

------------


VỌNG THIÊN THAI TỰ

Thơ Nguyễn Du trong cuốn Nam trung tạp ngâm


Lời giới thiệu 

“Bài thơ đầy tính hoài cổ của Nguyễn Du đối với triều đình nhà Hậu Lê. Sinh ra trong thời Cảnh Hưng gần cuối thời Lê mạt, Trịnh Nguyễn phân tranh. Tinh thần trung quân với nhà Lê của Nguyễn Du còn mạnh nên Nguyễn Du đã không chịu hợp tác với Tây Sơn dù  nghĩa quân Tây Sơn khi tiến quân ra Bắc lần thứ nhất với danh nghĩa Phò Lê, diệt Trịnh. Đã vậy khi nhà Lê vong, Tây Sơn sụp đổ Nguyễn Ánh thắng thế, Nguyễn Du, khi ấy đã 36 tuổi, chịu ra làm quan dưới triều Gia Long, ông vẫn nhớ đến những gì mà triều Lê đã để lại, cho dù trước đó ngai vàng của nhà Lê mạt chỉ là hư danh trước quyền chúa Trịnh”

U hoài thay tâm sự của Nguyễn Du 

Bất tri tâm bách dư niên hậu 

Thiên hạ hà nhân ....


Dịch nghĩa


VỌNG THIÊN THAI TỰ 


Núi Thiên Thai nằm phía cuối thành đông

Cách một nhánh sông nhỏ, tưởng chừng chẳng có lối sang

Ngôi chùa cổ (ở đó) bị mùa thu vùi trong đám lá vàng

Triều vua trước vị sư già đi giữa áng mây trắng

Thương thay (cho mình) tóc đã bạc mà còn phải làm lụng vất vả

Chẳng thể cùng với non xanh giữ vẹn nghĩa thủy chung

Nhớ năm trước (ta) đã từng đến đấy

Còn trông thấy chiếc chuông cổ đúc từ thời Cảnh Hưng(1740-1786)


 NHỚ CHÙA THIÊN THAI  


Núi Thiên Thai ở đế thành Đông (1) 

Cách nhánh sông chừng chẳng lối thông

Chùa cổ chôn vùi trong đám lá 

Sư già đi giữa áng mây bông

Thương thân tóc bạc còn gian khổ

Chẳng giữ lòng trung với núi sông

Lại nhớ năm xưa ta đã đến

Thăm chùa còn thấy Cảnh Hưng chuông (2) 


Mai Ngọc Cường 


(1) Chùa Thiên Thai trên núi Thiên Thai phía đông kinh thành Huế 

(2) Chuông cổ đúc từ đời Cảnh Hưng Lê Hiển Tông (1740-1786) 


Chữ Mai thường làm ta nghĩ đến một loài hoa đẹp nở vào mùa Xuân, hoa Mai hay Mai hoa. “Nhất sinh đê thủ bái mai hoa” ( Một đời chỉ cúi đầu bái lạy  trước hoa mai) - Cao Bá Quát. Mà ít ai nghĩ đến một nghĩa khác của chữ Mai.

Có lẽ một chữ “mai” trong bài thơ trên đã là cả một tranh luận về “mai” 


Thời đại Nguyễn Du chỉ cách nay hơn 3 thế kỷ nhưng thơ văn của cụ đã “tam sao thất bổn” từ bản Nôm truyện Kiều đến thơ chữ Hán. 

Bài” Vọng Thiên Thai Tự”, hai câu Thực 3 và 4, có bản viết 

“Cổ tự mai (梅) hoa hoàng diệp lý. 

  Tiên triều tăng lão bạch vân trung” 

(Hoa mai ở ngôi chùa cổ, trong đám lá vàng

Vị sư già triều trước, giữa cõi mây trắng )


Có bản viết: 

“Cổ tự thu mai (埋) hoàng diệp lý. 

  Tiên triều tăng lão bạch vân trung” 


(Ngôi chùa cổ bị mùa thu vùi trong đám lá vàng

Vị sư già của triều vua trước đi giữa áng mây trắng)


Lý luận cho rằng, “thu mai ” hợp lý hơn “mai hoa”, vì khi hướng trông (vọng)  lên chùa Thiên Thai Tự , cụ Nguyễn Du trông thấy chùa như đang bị vùi dưới màu lá vàng mùa thu, một hình ảnh thật đẹp mắt. Và trong khoảng xa như thế chắc chắn không thể thấy được những đóa hoa mai trong đám lá vàng nếu không zoom cận cảnh 


Đó là hiểu  nghĩa theo chữ Hán trong câu thơ . Còn nếu ngắt theo nhịp câu thơ thì lại hiểu ý thơ theo nhiều cách khác nhau: 


Nếu ngắt nhịp vào chữ thứ tư ( mai hoa / tăng lão) là danh từ 

Cổ-tự mai-hoa,/ hoàng diệp lý,

Tiên-triều tăng-lão, /bạch vân trung

Thì câu thơ sẽ được hiểu là : 

(Hoa mai ở ngôi chùa cổ, trong đám lá vàng,

Vị sư già triều trước, giữa cõi mây trắng )


Nhưng nếu ngắt câu là ở sau tiếng thứ ba (mai/ lão) sẽ là động từ chứ không phải danh từ.

Cổ-tự-mai / hoa hoàng diệp lý

Tiên-triều-tăng / lão bạch vân trung


Câu thơ sẽ được hiểu là : 

Cây mai ở ngôi chùa cổ /nở hoa trong đám lá vàng,

Vị sư triều đại trước/ già đi giữa cõi mây trắng 


Vậy ra hoa mai không phải là cây hoa mai, mà cây mai nở hoa. 

Tăng lão không phải là ông già đi tu mà là vị sư đang già đi 


Thay đổi một chỗ ngắt câu, đổi danh từ thành động từ, cả bài thơ bỗng chuyển dịch ! Không gian biến thành thời gian. Tĩnh hóa thành động. Như phù vân như hoa kia sớm nở tối tàn, như lá xanh kia đổi màu theo năm tháng mà thấm thía nỗi biển dâu của triều đại của kiếp người. 


Trong bài dịch này dùng bản “thu mai” nên ngắt câu lại nằm sau chữ thứ hai,bài thơ thay đổi hoàn toàn Chữ “mai” trong câu này không phải là hoa mai(梅 ) nhưng là động từ “chôn”, “vùi” như mai (埋 )t “mai một”trong các câu thành ngữ”mai danh ẩn tích”, “mai ngọc trầm châu” . Còn “thu” chính là mùa thu. Như vậy, hai câu thực của bài mang ý nghĩa:


Cổ tự / thu mai hoàng diệp lý

Tiên triều / tăng lão bạch vân trung


(Ngôi chùa cổ bị mùa thu vùi trong đám lá vàng

Triều trước vị sư già đi giữa vầng mây trắng)


Nhớ GS Lê Hữu Mục, Phạm Văn Đang, và Trần Trọng San. 

Các thầy của chúng tôi không còn nữa nhưng chữ của các thầy vẫn còn đây. 


Lại nhớ khi học ban Việt Hán tại Đại Học Sư Phạm Sài Gòn chúng tôi phải học rất kỹ môn Hán Nôm tuy chủ yếu là sẽ dạy Việt Ngữ chứ đâu có phải dạy tiếng Hán hay tiếng Nôm. Thầy đã dạy thì trò phải học. Học lâu cũng nhập tâm. Mãi về sao mới hiểu ra. Không học thì không hiểu, không hiểu thì không thể truyền đạt đúng Và không  truyền cái sai cho học trò đây chăng, bởi “ văn chương tự cổ vô bằng cớ” 


Một buổi sáng thứ tư quá rảnh 

6 tháng 1 2021

Tuesday, May 1, 2018

CÁM ƠN EM - ĐÊM CUỐI THÁNG TƯ








Anh cám ơn em, giọt nước mắt
Em đã khóc cùng anh, đêm qua
Đêm cuối tháng tư buồn hiu hắt
Những thước phim ngày cũ, rất xa
Hai đứa cùng coi trên màn ảnh nhỏ
Và em - cô bé tuổi mười ba
Rất  thơ ngây ngày đó
Em buồn gì mà lại khóc cùng anh
Những giọt nước mắt long lanh
Trong khoé mắt em
Làm lòng anh chùng xuống
Chúng ta khóc
cho quê hương yêu dấu
Nước mắt anh rơi vào trong tim
Từ tiếng súng sau cùng và chấm hết
Ngày ấy cả thế giới đã lặng im
Nhìn miền Nam thân yêu dãy chết
Những dòng người như đàn thú cùng đường
Bi thương
cuống cuồng mỏi mệt
Chạy về đâu ? Còn biết chạy về đâu
"Chỉ thấy mưa sa trên màu cờ đỏ"
Nhìn quê hương đất nước đổi thay mầu
Anh và em
đã khóc cùng miền Nam ngày đó


Mấy mươi năm dài, dòng lệ vẫn chưa khô
Mẹ vẫn một đời đi khiếu kiện
Cha ngậm oan khiên dưới đáy mồ
Khóc cho anh trong lao lung tù tội
Oằn vai lưng gánh những đòn thù
Cám ơn em tháng năm dài chờ đợi
Dẫu đói no trong cửa ngục âm u

Cám ơn em
Tháng  tư ngày cuối
Cảm xúc này anh đã thức cùng em
Bờ vai vẫn ấm lời em nói
Em mãi yêu anh,
Người lính miền Nam

Cao Ngọc Cường
1 tháng 5

Sunday, November 5, 2017

Hai bài thơ về một dòng sông

CHIỀU QUA SÔNG, NHỚ NHÀ 

Dòng Potomac lặng lờ,
Cây đa chẳng có, con đò cũng không.
Ngẩn ngơ những ngóng cùng trông,
Nơi quê người cứ tưởng mong quê nhà.
Ngược xuôi Ngã Bẩy.Ngã Ba,
Trông tìm Cố Quận.
Biết là tìm đâu ?
Ngậm ngùi cồn cỏ, bờ lau.
Trong tiềm thức hiện mái đầu tuyết sương.
Lưng còng chĩu nặng nhớ thương.
Mắt lòa từ độ dõi đường con đi.
Lòng đau từ lúc phân kỳ.
Xót xa từ thủa biệt ly đến giờ.
Dòng Potomac lặng lờ,
Cây đa chẳng có.
Con đò cũng không.

Hoa Thịnh Đốn tháng Tư 1995. 

Tạ Quang Trung



Họa nguyên vận

BÊN SÔNG LY KHÁCH NHỚ NHÀ

Ngày trôi như nước lững lờ
Mơ hồ có tiếng gọi đò trong không
Quê nhà xa ngái vọng trông
Người đi độ ấy vẫn mong về nhà
Mười phần hết bảy còn ba
Nhìn mây viễn xứ biết là nơi đâu
Phơ phơ tóc trắng bông lau
Bờ xa lớp sóng bạc đầu hơi sương
Quê nhà rau đắng còn thương
Cầu tre lắc lẻo biết đường nào đi
Phiêu du khắp xứ Hoa Kỳ
Ai còn nhớ buổi từ ly bấy giờ
Nhớ dòng sông cũ lững lờ
Vẫn còn nghe tiếng gọi đò hư không

Cao Ngọc Cường

Friday, November 3, 2017

HƯƠNG VỊ BÁNH BÈO


"À  a  a ... nhớ,
nhớ em còn mái tóc bánh bèo "

Dưng không lại nhớ chén bánh bèo xóm quê. Nhớ một thời được sáng mắt sáng lòng, về quê nín thở qua sông, sống đời trần ai khoai củ. Sáng sớm đổ bánh bèo chén cho vợ bán đầu xóm để qua ngày đoạn tháng, gắng sống sót chờ ra biển lớn . Đồng có đồng không, nói cũng đáng tội, cái thời khốn nạn gì đâu, cả xóm đều nghèo, lũ nhỏ quanh xóm sáng sớm chạy tới mẹt bánh của vợ tôi lễ phép thưa : " Cô 8, má con biểu cô 8 bán cho con 1 chén bánh bèo ăn đi học , hồi nào gặp, má trả tiền cho Cô sau" nghe thật thương).
Bánh bèo đổ trong chén ăn cơm đặc, bột xoáy dày cui, quẹt chút mỡ hành, rắc chút nhưn cá mối chà nhiễn pha màu giả tôm chấy, rưới chút nước mắm loãng là xong một bữa sáng của bọn nhỏ con nhà nghèo. Bánh bèo chén loại này không thanh cảnh như bánh bèo Huế hay các loại bánh bèo ăn chơi của các miền khác mà là loại ăn chắc mặc bền giống như bánh bèo xứ Quảng, ăn chừng  2 cái uống thêm ly cối nước nữa là no nguyên buổi.
Nhìn cái bánh bèo cối thời buổi "kinh tế mới" này thì mới lột tả được cái mái tóc "bánh bèo" của cô nhỏ mà PD đã phổ nhạc bài thơ " Đắng và Ngọt" (hay là Cuộc Đời) của Minh Phẩm -Trang Thế Hy) với nhan đề " Quán Bên Đường" mà tôi đã nghe rất nhiều lần trước đây :
"Ngày xưa ngày xửa ngày xưa
Chiều mơ chiều nắng đẹp khoe mầu tơ
Hai đứa mình còn trẻ thơ
Rủ nhau ngồi ngưỡng cửa chơi thẩn thơ

À a a nhớ, nhớ em còn mái tóc bánh bèo
À a a nhớ má chưa hồng da mét vì em nghèo
Đầu anh còn húi trọc, còn húi trọc
Khét nắng hôi trâu thèm đi học, thèm đi học

Em cầm một củ khoai
Ghé răng cạp vỏ rơi
Xong rồi mình chia đôi
Khoai sùng này lượm mót
Sao ngọt lại ngọt ghê"
(Quán Bên Đường - Phạm Duy 1959)
Món bánh bèo bình dân của dân tôi cũng như mái tóc bánh bèo mộc mạc đơn sơ của cô bé quê nghèo đã đi vào thơ vào nhạc như thế đấy
Cũng chẳng thua gì mái tóc tân thời của cô em Bắc Kỳ nho nhỏ sau này trong thơ Nguyễn Tất Nhiên và cũng là PD đưa vào nhạc
"Này cô em Bắc Kỳ nho nhỏ
Này cô em tóc demi garçon,
Chiều hôm nay xuống đường đón gió,
Cô có tình cờ, nhìn thấy anh không"

À ... A....A ....Á
Nhớ "nhớ em còn mái tóc bánh bèo"
Nhưng phải là bánh bèo miền quê tôi mới thiệt tượng hình. Đúng ra, bánh bèo miền Nam trước đây chỉ là món bánh ăn chơi thôi, chỉ sau thời đại "nón tai bèo" khi "1 củ khoai cõng 2 hột gạo" hay "rau muống bổ bằng 3 thịt bò" thì bánh bèo mới trở thành món ăn "cao cấp" cũng như tất cả các loại bánh của miền Nam thời ấy (kể luôn bánh xe, cũ hay mòn đều được cắt vụn làm "dép lốp")
 Ngày đó, đứng đổ bánh bèo cho vợ bán, bên lửa hừng hực đun nóng nồi lớn nước sôi bốc khói  ngùn ngụt, tôi thấy tôi thiệt giống Võ Đại Lang thảm thiết và trong hơi nước bánh bèo nghi ngút ngày đó có cả những giọt mồ hôi và nước mắt của cảnh đời quanh tôi .
Qua làn khói hơi nước ấy tôi lại nhớ ngày xưa ( ngày xưa tưởng như lâu lắm nhưng chỉ là dăm năm vừa qua đấy thôi) tôi thỉnh thoảng vẫn chở "em yêu" đến quán bánh bèo không tên nằm trên con lộ chính dẫn vào thị xã Quy Nhơn, qua khỏi  Cầu Đôi  và cũng khá xa phố xá.
Gọi là quán chứ thực ra đó chỉ là vườn trước sân nhà ven lộ chính có vài gốc mận xanh mướt nên có tên gọi Bánh Bèo Cây Mận. Hai đứa ngồi ở cái bàn nhỏ kê trước hiên nhà dưới gốc mận êm mát nhìn ra phía lộ gọi vài chục chén bánh bèo nóng, dĩa bánh ít trần, bánh ít rán và bình trà nóng ngồi nhâm nhi rù rì rủ rỉ với nhau trong khung cảnh ngoại ô yên tĩnh nên thơ. Bánh bèo ở đây đổ trong chén sành vừa phải không quá thanh cảnh như bánh bèo Huế mà cũng không thô như bánh bèo xứ Quảng. Một trẹt bánh chừng 6,7 chén cũng thoa dầu hành tôm chấy, ăn nóng hay nguội đều ngon nhờ rưới thêm món nước chấm tuyệt vời rất vừa ăn .
Nhớ, rất nhớ Bánh Bèo Cây Mận Quy Nhơn ngày ấy không chỉ vì hương vị dân dã của bánh mà còn là hương vị tình yêu.
Nhớ cả mái tóc bánh bèo thơ dại thời còn bé của "em yêu" nay đã trở thành bà nội, bà ngoại mấy đứa cháu .
...."À  a  a ... nhớ,
nhớ em còn mái tóc bánh bèo "


Chuyện bánh bèo của tôi không " ngọt và đắng" như thơ Minh Phẩm , không thê lương như "quán bên đường" của PD, nhưng rất "có hậu"

  Sáng nay, thứ Bảy cuối tuần, tình cờ lại được ăn sáng bằng vỉ bánh bèo vợ mua từ chợ về, bánh bèo nhỏ trèn trẹt cũng dầu hành, tôm chấy thêm chút đậu xanh nghiền xếp lớp như vảy cá trong vỉ xốp nguội ngắt nhưng ngậm trong miệng lại ấm nóng như kỷ niệm bánh bèo cây mận ngày xưa. Và đúng là ngày xưa vì đã non nửa thế kỷ đời đã trôi qua
Ngày xưa ngày xửa ngày xưa
Chắt yêu thương đó cho vừa nhớ thương.
Cao Ngọc Cường
7/10/17