Tuesday, March 18, 2025

T U Y Ế T X U Â N

 

Tuyết đã rơi đêm qua
Tuyết tháng giêng năm mới
Rơi trắng trước sân nhà
Mỏng thôi như cũng đủ
Mang lạnh từ phương xa
Về ngang qua thành phố
Rơi trong đêm nhạt nhòa
Tuyết như người bạn cũ
Lâu lắm mới ghé qua
Một trời đầy hoa tuyết
Cùng mùa Xuân nở hoa

mnc

Houston 21/1/2025

Monday, March 17, 2025

50 NĂM VÀ NHỮNG TỜ LỊCH MỚI


Trần Mộng Tú
50 năm như một giấc ngủ dài, thức dậy vẫn còn lãng đãng giữa chiêm bao.
Từ những cái Tết đầu tiên còn độc thân, còn cha mẹ, anh em chưa mất người nào. Cả gia đình ngơ ngác đất lạ, quê người … nén nhang thắp lên cành hoa ngoài vườn cắt vào, cùng với bao nhiêu xúc động.
Đốm nhang cháy đỏ như quầng mắt
Khói có bay về tận cố hương
Vườn người tôi chiết cành xuân thắm
Nhớ quê vết cắt trượt xuống hồn. (tmt)
Như bao nhiêu người Việt lưu vong khác, chúng tôi làm lại cuộc đời mình, và bằng một cách nào đó, chúng tôi chấp nhận thích nghi với đời sống như hoa cỏ thích nghi với khí hậu, như cây quýt ở Giang Nam bên Tàu, mang sang vùng khác vẫn ra hoa kết trái tuy vị ngọt đã khác đi, nhưng cây vẫn sống và sinh hoa, kết quả hàng năm.
Thời gian đã một phần nào chữa lành những vết thương và giúp những vết sẹo lên da non, mờ dần. Trong mấy chục năm làm người di tản, chúng ta, chắc ai cũng hơn một lần thay đổi nhà cửa, thay thành phố hay sang hẳn một tiểu bang khác, và mỗi một lần thay đổi là một lần hoang mang, một lần nén nỗi ngậm ngùi, cho dù nhà có đẹp hơn, thành phố có thích nghi hơn. Bởi vì đi đâu cũng thấy mình là “Người Di Tản”
Trong 50 năm, thế hệ hậu duệ của “Người Di Tản” đã làm nên bao nhiêu kỳ tích. Cái xấu cũng có xảy ra nhưng so với cái tốt thì quả thực hậu duệ của Việt Nam Cộng Hòa xứng đáng cho những quốc gia cưu mang mình không thất vọng.
Thời gian cứ thản nhiên trôi qua, Cha Mẹ chúng tôi và một vài người thân đã nằm im nơi đất khách, thế hệ của chúng tôi đã nhiều bạn bè bỏ đi biền biệt, họ chơi trò trốn tìm nhau dưới những đám cỏ xanh. Họ có tìm được nhau không?
Những người chưa chơi trò “Trốn Tìm” còn lại … Sáng thức dậy cùng mặt trời thấy mình hiện hữu, soi gương mắt đã rạn chân chim, tóc mỏng và trắng như sương mù, sương muối, biết là mình đã ở đây lâu lắm rồi. Lòng hoài hương nhớ về cố quận thì ai mà không có, nhưng họ vẫn sống với tất cả những gì họ có để gây dựng cho một thế hệ tương lai tốt đẹp hơn trong khả năng của mỗi người. Người Việt là một trong những số người Á Đông có sức chịu đựng bền bỉ, thông minh và chăm chỉ.
Hậu duệ của những người lính Việt Nam Cộng Hòa đã có mặt ở mọi nơi, từ quân đội, chính trị, văn học, tôn giáo. Họ cống hiến và được đánh giá cao. Cái xấu đôi khi cũng có, nhưng so với cái tốt gặt hái được trên mọi lãnh vực, từ các nơi trên thế giới, giúp cho những người Quốc Gia đã hy sinh nằm xuống cũng được an ủi đôi phần.
Sau 50 năm nước Việt hoàn toàn về tay Cộng Sản, Cộng Sản vẫn sợ bóng, sợ vía lá cờ VNCH. Chỉ cần lá cờ mà họ đã khinh miệt, chà đạp đó xuất hiện dưới bất cứ hình thức nào, nhà cầm quyền Cộng Sản đã ầm ầm báo động và bắt phạt những người vô tình đứng cạnh. Mặc dù sau 50 năm khi có thiên tai xảy ra, trong nước vẫn không quên kêu gọi người Việt hải ngoại đóng góp. “Tình Đồng Bào” vẫn được ân cần nhắc tới.
50 năm, Nick Út, cựu nhiếp ảnh viên của AP rủ tôi về Hà Nội, nơi hiện thời AP có chi nhánh văn phòng ở đó. Tôi đã từ chối và nói cho Nick Út hiểu rằng, trong văn phòng đó không có một cựu phóng viên Mỹ nào của Saigon ngày cũ làm việc cùng chúng tôi nữa. Họ phần đông đã qua đời vì tuổi tác, nếu chúng tôi có về thì toàn gặp những nhân viên mới, cả Mỹ lẫn Việt, và những người Việt nếu có trong văn phòng đó, chắc chắn không phải là người quốc gia, nên đâu có thể gọi là re-union được, nó sẽ mang lại cho chúng tôi sự lạc lõng và … buồn.
Thời gian của tôi trôi về đâu
Năm mươi năm lòng vẫn còn đau
Tay vuốt tóc tay gày như tóc
Một nhánh hổ ngươi vạn nhánh sầu. (TMT)
Những tháng cuối năm, tôi hay mong ngóng những cuốn lịch mới. Từ những cuốn Lịch của nhà thờ, họ đạo ở thành phố tôi cư ngụ, có ghi những ngày Lễ các Thánh, Lễ quan trọng như Phục Sinh, Giáng Sinh… để nhắc nhở mình sửa soạn một tâm hồn nhẹ nhàng thanh sạch đến Thánh Đường dự lễ, tôi cũng tìm đến những cuốn lịch ở các siêu thị Á Đông có ghi những ngày tháng âm lịch để tiện theo dõi những Mồng Một, ngày Rằm, của tháng âm lịch. Tôi cũng hay lang thang vào tiệm sách để tìm mua Lịch mới, loại lịch xé mỗi ngày một tờ là loại tôi thích nhất, loại này hiếm, không phải dễ tìm.
Tôi thích những tờ Lịch mỗi ngày này. Tôi có thể ghi xuống đó những công việc sắp tới và khi ngày đó đi qua, tờ lịch được xếp sang một bên và tôi có thể xếp nỗi buồn vui của mình như xếp lại một tờ lịch đã hoàn tất. Những tờ lịch xé ra tôi để ngay vào một cái hộp bên cạnh đó. Thỉnh thoảng lại nhìn xem đã phung phí hết mấy phần thời gian trong đời sống và cuối năm có thể đếm được bao nhiêu giọt nước mắt với bao nhiêu tiếng cười.
Việc mua Lịch xé từng tờ này tôi yêu thích từ khi còn trẻ ở quê nhà. Bây giờ nhớ lại thời gian đã xé “Những Tờ Lịch Cũ” và đã thả chúng bay như bươm bướm từ văn phòng làm việc ở lầu 4 của Thương Xá Eden xuống dưới đường vào những ngày cuối năm trong một thành phố thơ mộng của ngày xa xưa đó chỉ còn là kỷ niệm …
Bây giờ ở quê người, tôi vẫn thích có cuốn lịch rơi từng tờ mỗi ngày, nhưng không phải năm nào tôi cũng tìm được. Cuốn lịch xé mỗi ngày năm nay của tôi là cuốn lịch có 365 tấm hình “Chim Trong Vườn Sau” đầy màu sắc. Cuốn này tôi có được do nhân dịp chị bạn thân Trùng Dương, ghé chơi vài ngày. Hai chị em lang thang trong một tiệm sách gần nhà, tôi tìm thấy lịch xé từng tờ mỗi ngày, mừng quá, reo ầm lên, Chị thấy tôi vui quá, vội vàng mua tặng.
Hình con chim đầu tiên trên cuốn lịch là con Northern Cardinal và con cuối năm là Western Tanager. Cả hai con chim này đều màu sắc rực rỡ.
Trong năm mới sắp tới này, hơn 300 con chim đầy màu sắc của vùng Tây Bắc nước Mỹ trên bàn viết, sẽ là niềm vui của tôi mỗi ngày. Mỗi lần mở một ngày mới, sẽ có hình một con chim mới khác nhau hiện ra, tôi sẽ đọc Thơ cho những con chim trong lịch nghe:
Ngày xưa anh đón em
Nơi gác chuông chùa nọ
Con chim nào qua đó
Còn để dấu chân im
Anh một mình gọi nhỏ
Chim ơi biết đâu tìm.
(Phạm Thiên Thư)
Như những con chim để lại dấu chân trên gác chuông, chúng tôi những người di tản đã để lại nhiều dấu tích tốt đẹp: đó là thành công của con cháu người Việt gần như hầu hết trên mọi lãnh vực trên những quốc gia, những thành phố họ định cư.
Chúng tôi dù ở tuổi nào, luôn có niềm tự hào của những con chim bé nhỏ: Tự tin, xoải cánh trên bầu trời bát ngát.
Trần Mộng Tú – Xuân Ất Tỵ 2025

LỜI CUỐI CHO THIÊN ANH HÙNG CA


Thường Đức Quê Tôi
Giặc qua Sông Côn về Thường Ðức
Trong cơn gió lạnh cuối Trường Sơn
Quân ngược dòng sông đêm thao thức
Di binh, chuyển pháo tấn công đồn
Anh Biệt Ðộng Quân đêm phòng thủ
Nhìn qua ánh sáng lỗ châu mai
Thêm một đêm dài không giấc ngủ
Khói thuốc cay mờ trong mắt ai
Anh lính Địa Phương trong lô-cốt
Tay cầm ống phóng bảy-mươi-hai
Bên xóm nhà xa đèn ai đốt
Lập lòe ánh lửa bóng liêu trai
Anh lính Pháo Binh ghi tọa độ
Sẵn sàng yểm trợ pháo tầm xa
Chùi súng, thông nòng lo tu bổ
Tay sờ thép lạnh ướt sương pha
Anh Thiết Kỵ về đường liên tỉnh
Băng ngang Ðại Lộc đến Hà Nha
Vó câu dong ruổi như đời lính
Từ độ lửa binh chẳng về nhà
Anh lính Không Quân từ Ðà Nẵng
Phi pháo từng đêm chặn giặc về
Có lẽ đêm nay anh thức trắng
Ðợi chờ phi vụ đắng cà-phê
Anh Nhảy Dù về từ Quảng Trị
Ba-lô, súng đạn tới Cầu Chìm
Nhận đồ tiếp tế trên chiến lũy
Nghe hờn sông núi dậy trong tim
Ðại pháo từng đêm trên chiến trận
Xe tăng, bộc phá mở hàng rào
Anh vẫn hiên ngang làm bổn phận
Quê mẹ vì ai tẩm máu đào
Hơn ba mươi năm ngày lịch sử
Thường Ðức quê tôi những ngày buồn
Cũng bóng tre xanh người Thượng nữ
Vu Gia sông cũ nước xuôi nguồn
Tôi nhớ ơn anh, người lính chiến
Tháng ngày bảo vệ xóm làng tôi
Những kẻ hy sinh trên trận tuyến
Ngàn sau còn nhớ mãi không thôi...
Lê Chiến
(11/2008)

C O N M U Ỗ I

 


Có con muỗi nhép thích bay loanh quanh.
Nó nghe tiếng vỗ tay râm ran vang lên khi nó vo ve bên tai thiên hạ.
Muỗi ta nghĩ người ta thích nó vì nó bay đến đâu người ta vỗ tay mừng nó đến đó.
Muỗi thích chí càng vo ve tợn.
Kết cục nó nghe một tiếng vỗ lớn.
Đó là tiếng vỗ tay cuối cùng trong đời con muỗi.
Thời xưa có tích con muỗi vong ân phụ nghĩa thì thời nay cũng có tích con muỗi vo ve bay lang thang trên cõi mạng gặp gì chích nấy, vô tội vạ. Bị người ta vỗ tay đập chết thế mà lại tưởng vỗ tay cổ võ. Rõ chán cho muỗi nhép
Cụ Cử Phan Văn Trị, một sĩ phu yêu nước thời kháng Pháp có bài thơ
Vịnh con muỗi như sau:
Muỗi hỡi thân ngươi sướng mọi điều,
Thiếu chi chi nữa hãy còn kêu.
Giường ngà chiếu ngọc từng nương đậu,
Má phấn đào non cũng ấm yêu.
Béo miệng chẳng thương con trẻ dại,
Cảnh hồng nào đoái chúng dân nghèo.
Ngày sau hẳn gặp nhằm xơ quất,
Xử tội nhà ngươi mắt chẳng nheo.
Phan Văn Trị
Muỗi xưa chết vì xơ dừa người quất còn muỗi nay chết vì tiếng vỗ tay !!! Haizzza !
mnc

Sunday, November 3, 2024

CÂU CHUYỆN NHỮNG DÒNG SÔNG

 Khi tôi tìm lại những chiến công của tiền nhân trong lịch sử nước nhà dọc các miền đất nước, những núi những sông những tên đất, tên người  … đã góp phận tạo nên cẩm tú sơn hà. Từ Bắc vào Nam, từ Ải Nam Quan Chi Lăng đến mũi Cà Mau. Ba con sông lớn, Hồng Hà nơi máu giặc phương Bắc còn đỏ sắc sông, Cửu Long chín cửa rồng bay những sông Tiền, sông Hậu những chi lưu  Nhật Tảo Rạch Gầm Xoài Mút vang dậy chiến công Nam Bắc thì dòng Hương Giang êm đềm lờ lững uốn quanh Hoàng thành nhà Nguyễn một thời, tượng trưng cho non nước miền Trung không dậy sóng như Lô Giang, Nhật Lệ không đớn đau chia cắt như sông Gianh, Bến Hải. Con sông Hương chỉ dậy mùi thơm trong các bài thơ là tâm điểm của thi ca nhạc họa của những tâm hồn nghệ sĩ. Sông Hương tự cổ chí kim thế nào! Sông Hương chừ răng: 

“Rằng thưa phố Huế bây giờ, Vẫn còn núi Ngự bên bờ sông Hương” (BG) 

Người thơ điên cũng nhận ra sông Hương như rứa thê! 

Người nghệ sĩ lãng du với cây đàn đi từ Bắc vào Nam lắng nghe tiếng những con sông ba miền, khi ngang qua  đất thần kinh “Quê hương em nghèo lắm ai ơi,:mùa đông thiếu áo hè thì thiếu ăn…:  đã nghe 

“Miền Trung vọng tiếng, em xinh em bé tên là Hương giang, đêm đêm khua ánh trăng vàng mà than. 

Hò ơi, phiên Đông Ba buồn qua cửa chợ, bến Vân Lâu thuyền vó đơm sâu.

Hỡi hò, hỡi hò. 

….

Trời rằng, trời hành cơn lụt mỗi năm à ơi! … khiến đau thương thấm tràn, lấp Thuận An để lan biển khơi ơi hò ơi. (Phạm Đình Chương)


Nhớ lại năm xưa, có lần tôi ra xứ Huế. Bởi vì nghe Huế đẹp Huế thơ. Có dòng Hương Giang nước chảy lững lờ… 

Buổi sớm qua sông Hương không nhìn thấy dòng sông như  danh sĩ nổi loạn Cao Bá  Quát 

“Vạn chướng như bôn nhiễu lục điền

Trường giang như kiếm lập thanh thiên 

( Muôn dãy non xanh ngát cánh đồng

Sông dài như kiếm dựng trời xanh.) 

Nhìn sông Hương như kiếm dựng thì chỉ có mỗi Cao Chu Thần mới thấy mà thôi. Không hề có một chiến công nào trên dòng Hương Giang vòng quanh Hoàng thành Huế thời vua chúa và ngược thời gian một chút khi Huế còn là Phú Xuân, kinh đô của nhà Nguyễn Tây Sơn ngắn ngủi trong lịch sử, sông Hương thoáng qua trong ngòi bút của danh sĩ Ngô Thì Nhậm 


Ức tích minh hương hội nhất đường,

Hương giang ngự tất hổ tiên đường.

Hoàng hoa tuế khiền truyền Kim mã.

Duệ táo thời bao phụng bảo chương.


Vua sáng tôi hiền xưa một đình

Hương giang ngự giá lối xe tiên

Xưa qua Kim Mã đường đi sứ,

Dâng tấm ngự chương bút ngợi khen


Về sau Nguyễn Du khi từ giã quê nhà Nghi Xuân, Hà Tĩnh vào Kinh mười năm lận đận quan trường, khi mùa thu đến ông viết bài thơ từ dòng Hương Giang nhớ về sông Lam quê cũ 


Thu chí 

Hương Giang nhất phiến nguyệt,

Kim cổ hứa đa sầu.

Vãng sự bi thanh trủng,

Tân thu đáo bạch đầu.

Hữu hình đồ dịch dịch

Vô bệnh cố câu câu.

Hồi thủ Lam Giang phố,

Nhàn tâm tạ bạch âu.

Nguyễn Du 

 

Mùa thu đến 

Một mảnh trăng sông Hương

Gợi nhớ bao sầu thương 

Chạnh lòng bên mộ cũ 

Tóc bạc đầu thu sương

Hữu thân nên hữu khổ 

Không bệnh mà còng lưng 

Sông Lam ngoảnh nhìn lại 

Như cánh bằng thung dung 

( mnc phỏng dịch)


Một bài thơ cổ nữa về dòng Hương qua thơ của vua 

Đệ thập nhất cảnh - Hương giang hiểu phiếm

Nhất phái uyên nguyên hộ đế thành

Thanh lưu sấn tảo nhạ lương sinh.

Ba bình xuân thuỷ lung yên sắc

Chu trục thần phong động lỗ thanh.

Thiên tửu vị can nhu ngạn thụ,

Sơn hoa do luyến kết vân anh.

Kỷ hồi hà yết Thương lang khúc,

Song khuyết phương thăng thuỵ nhật minh.

 Thiệu Trị 


Một dòng nước biếc bọc kinh thành

Sớm lạnh thuyền theo gợn nước xanh 

Sông nước vào Xuân mờ khói toả 

Mái chèo khua nhẹ vọng âm thanh

Đôi bờ cây cỏ mờ sương phủ 

Đỉnh núi lá hoa quyện gió lành 

Thuyền lướt êm theo dòng bất tận

Vầng dương lên đẹp cảnh như tranh 

mnc 


Lan man chỉ thấy một dòng Hương Giang muôn đời êm ả nên thơ … cho đến mùa Xuân Mậu Thân 1968. 


Mùa thu

3/11/2022

Thursday, October 31, 2024

SINH PHẦN

 

Sinh phần 

Bùi Bích Hà 

Năm tôi lên bảy, Cách Mạng Mùa Thu bùng nổ, Việt Minh cướp chính quyền, đem cờ đỏ sao vàng vào thành phố Huế lúc bấy giờ chưa dứt khoát với Pháp, đang lúng túng với Nhật, có cả bọn lính Tàu phù chân quấn xà cạp bẩn thỉu nghênh ngang đó đây.

Bằng cách nào, trẻ con như tôi ngày ấy không biết, chỉ qua một đêm súng nổ đì đụp, sáng hôm sau thành phố sạch bóng ngoại bang, chỉ còn Việt Minh mặc bất cứ quần áo gì họ có, cánh tay đeo băng đỏ, cầm loa đọc lệnh của chính phủ mới do ông Hồ Chí Minh lãnh đạo.

Họ chiếm ngụ những ngôi nhà to, rộng của dân làm trụ sở sinh hoạt, trong đó, có phân nửa mặt tiền ngôi nhà số 72 Gia Hội của bố tôi. Chỉ trong vài ngày, để tránh sinh hoạt ồn ào của đám cán bộ Việt Minh, bố tôi vội vã thu dọn đưa cả nhà về khu đất một mẫu tây phần lớn còn bỏ hoang ở Ao Hồ, ngay bên cạnh phủ ông Hoàng Mười, một phía là cái hồ sen bát ngát hương hoa, một phía là cánh đồng trống trải mình tít tắp về mạn Bao Vinh.

Chúng tôi ở tạm trong phần kiến trúc chỉ mới hoàn thành sơ sài gồm ba phòng ngủ bên cánh phải, hai phòng ngủ lớn bên cánh trái có nhà vệ sinh và phòng tắm theo tiêu chuẩn Tây phương, ở giữa là tiền sảnh gồm phòng khách phía trước, phòng ăn phía sau thông xuống nhà ngang thật dài nối vào bếp, chỗ xay giã gạo và lẫm lúa chứa thóc thu hoạch từ đồn điền ở Quảng Bình đưa về.

Bố tôi chuẩn bị sẵn nơi này để nghỉ hưu nên đã đặt tên cho nó là Trúc Hoa Viên, khắc trên tấm bảng đồng nhỏ song chưa kịp gắn ở trụ cổng vào như dự tính. Trong cơ hội bất đắc dĩ này, nó càng không cần được phô ra nếu không là gỡ xuống để chui vào hũ đồng bên cạnh hũ vàng, hũ gạo cứu quốc của “cụ Hồ.”

Tuy còn bé nhưng trí nhớ của tôi còn ghi đậm nét mẹ già tôi vừa khóc, vừa dấm dúi gói ghém vòng, xuyến, hoa tai, nhẫn, dây chuyền, mọi thứ trang sức lỉnh kỉnh bằng vàng thật, thân hành đem ra trụ sở Việt Minh giao nộp.

Ngày ấy, bác sĩ Tây chữa một cơn đau túi mật của bố tôi bằng á phiện nên sau đó, bố tôi nghiện. Nhà có bàn đèn rất đẹp để bố tôi thỉnh thoảng chiêu đãi khách quý, có cả bồi tiêm mặc áo the hầu các cụ đi mây về gió, bàn chuyện thi ca hay quốc sự tùy lúc và tùy hứng.

Bố tôi hút toàn thuốc phiện mua chính thức của nhà đoan, cơ quan độc quyền kiểm soát thuốc và rượu của chính phủ bảo hộ. Thuốc phiện của đoan đựng trong những cái hộp bằng đồng sáng choang, nhiều cỡ lớn nhỏ, tròn và dẹt, trên mặt có in chữ nổi.

Mỗi khi lấy thuốc từ hộp ra, cho vào cóng sứ xong, người bồi tiêm bao giờ cũng dùng một cái mùi-xoa nhỏ, lau trong ngoài hộp thật sạch rồi mới ném hộp vào thùng chứa, trước kia để chờ trao đổi với nhà đoan, thời Việt Minh để đóng góp tuần lễ đồng cứu quốc cho chính quyền cách mạng.

Phần mẹ tôi thì lo hũ gạo cứu quốc. Nói là mỗi nhà mỗi bữa thổi nấu bớt ra một nắm gạo nuôi quân nhưng chẳng nhà nào chỉ bớt một nắm mà bớt hẳn gạo trong lu, khạp để coi sao cho được mắt cán bộ hàng ngày mang bị lớn, bị bé đi thu góp.

Ngày ấy tôi nhớ không có cảnh đổi tiền quy mô như sau này qua biến cố 30 Tháng Tư, 1975, mà mẹ tôi mang tiền Đông Dương đi chợ để nhận thối lại toàn bằng tiền “cụ Hồ” không biết ở đâu ra? Bố tôi căn dặn mẹ tôi mua bán thật dè xẻn để cố giữ lại tiền Đông Dương bởi vì tiền “cụ Hồ” chỉ là giấy lộn, mai kia đi chợ phải “chở tiền bằng xe bò” đấy.

May quá, cờ đỏ sao vàng chỉ chấp chới ít lâu rồi thành phố lại đì đoàng tiếng súng. Bố tôi quyết định cùng gia đình tản cư về làng Phù Lương, cách Huế chừng 20 cây số, để vợ chồng ông quản gia thân tín và mẹ tôi ở lại trông coi nhà cửa.

Mỗi tuần một lần, mẹ tôi đi đường sông suốt đêm về làng, đem gạo trắng và rau quả tươi từ vườn nhà về quê cho mấy bố con tôi và cả gia đình mấy đứa cháu ngoại hờ. Sẩm tối hôm sau, mẹ tôi lại quang gánh xuống đò, ngược sông về Huế. Tôi khóc, đòi theo nhưng mẹ tôi ôm tôi và dỗ dành: “Em ngoan, vâng lời, chị sẽ mang thật nhiều na và thanh trà cho em. Đi theo chị nguy hiểm lắm, đạn rơi lõm bõm bên mạn thuyền, Thầy không cho đâu!” Thậm chí tôi không được theo mẹ ra tới bến sông vì mẹ tôi bảo lượt về một mình, tôi sẽ đi lạc, sẽ bị mẹ mìn bắt cóc phải đi ăn xin, làm tôi sợ và buông vạt áo mẹ.

Thời gian tản cư không lâu, đâu chừng hơn một tháng do tôi tính nhẩm những lần khóc lóc khi mẹ tôi thúng mủng không ra sông đáp thuyền về Đò Cồn. Chúng tôi hồi cư giữa một thành phố hoang tàn, xơ xác, người ăn xin đông hơn kẻ chợ và chính quyền rối beng lãnh đạo. Để tránh tình trạng con cái thất học, bố tôi ghi tên cho tôi đi học trường Tàu. Tôi cắt tóc bum bê, mặc sơ mi tay phồng vải trắng và váy màu xanh dương, có cả cái giỏ mây vuông vức đựng cuốn Tam Tự Kinh, trông hệt như đám Tàu nhi đồng lau hau xung quanh nhưng không nói được tiếng Hoa nên không có bạn.

Khác biệt duy nhất với tôi lúc đó là sự có mặt thường xuyên ở nhà của bố tôi, không biết từ lúc nào mà trong ký ức tôi, tóc bố bạc phơ, râu ba chòm cũng nhuộm màu sương tuyết. Có lẽ do bản chất hoạt động, bây giờ ngồi không, lại thêm thợ thuyền cũ vẫn đến thăm bố tôi, than thở không tìm được việc làm nên bố tôi động lòng.

Bố vừa muốn giúp họ, vừa muốn hoàn chỉnh ngôi nhà theo ý muốn, bèn cho họ cơi gian nhà ngang thành lầu, đứng từ bao lơn, sẽ ngắm được cảnh quan bốn phía xung quanh, hưởng được gió mát thoảng đưa mùi hương sen từ phía phủ ông Hoàng Mười và mùi lúa chín ở cánh đồng phía kia…

Khi kiến trúc mới thêm vào ngôi nhà, cho nó một diện mạo tươi tắn hơn xong rồi, bố tôi lo tiếp hậu sự cho ông bằng cách tự mình vẽ họa đồ và trông nom việc xây cất phần mộ rộng 64 thước vuông trong khuôn viên ngôi chùa Ái Hữu Đồng Châu Bắc Việt do bố tôi sáng lập gần đàn Nam Giao.

Bố tôi mua gỗ hồng tâm từ rừng Bạch Mã, thuê thợ đóng sẵn áo quan và để nó ở một nơi kín đáo trong nhà. Bây giờ nghĩ lại chuyện cũ, tôi nghiệm ra tất cả những việc bố tôi làm lúc cuối đời, ngoài ý nghĩa để ông được yên lòng, còn khiến chúng tôi quen mắt với sự phân ly sẽ đến, cũng bình thường như mọi toan tính khác trong đời.

Bố tôi sinh thời hay làm thơ nhưng ông không làm thơ ngâm ngợi sự phù du của kiếp người. Ông để lại những dòng di cảo sống động, là những mảnh tinh cầu vỡ ra, long lanh, rực rỡ, đẹp cho đến giây phút cuối cùng tan vào hư vô.

Hình ảnh ông trong trí nhớ tôi là những sớm mai mùa Hè ở Huế chan chứa nắng, ông mặc áo dài trắng, râu tóc trắng, cầm ba toong đi những bước dài ra cổng, ngồi vào chiếc xe xích lô sẽ đưa ông đi về nhiều lần giữa hai bờ tử sinh, nhiều năm trước khi mọi người tiễn đưa ông lần cuối trên xe tang, một ngày mùa Đông cả bầu trời nhỏ lệ tiếc thương…

Bây giờ, thế kỷ mới, người ta nói nhiều về cận tử nghiệp, là cách chuẩn bị hành trang cho mọi người trong chuyến đi cuối ra khỏi địa cầu. Càng gọn nhẹ, càng thảnh thơi, càng dễ bay bổng. Càng nuối tiếc, trì kéo, càng đắm đuối, khó rút chân ra.

Hôm qua, nhà thơ Trần Mộng Tú có bài thơ “Hunting House,” mô tả cảnh chị một mình đi tìm mua căn nhà cho nơi cư ngụ mới, thật hay:

…Người bán hàng giới thiệu
chiếc bản đồ của Thành Phố Âm, 

những con đường ngang dọc

này thảm cỏ xanh
hồ n
ước long lanh
vườn hoa đang nở
h
ình ảnh ngôi nhà một phòng
được mang ra
những chiếc nhà bằng gỗ
từ gỗ sồi im lặng
gỗ thông th
ơm hương
gỗ bạch đàn thơ mộng
đến gỗ Mahogany sang trọng
những bức tường bọc lụa
sẵn sàng đón một người vào
những ngôi nhà
làm bằng ván mỏng đơn sơ
m
ình nằm trong đó như chơi trò đi trốn
sẵn sàng ôm choàng lấy lửa
ngọn lửa sẽ reo to
bắt được nhau rồi
cả hai cùng cháy
thành tro
Ng
ười bán hàng lại mang ra
Những chiếc b
ình
bằng đá hoa cương
bằng gỗ trầm hương
dát bạc
mạ vàng
hay chỉ đơn sơ như chiếc bình hoa bằng sứ
để người đem lên núi
ng
ười mang vào rừng
người đưa ra biển
Chiếc b
ình nào rồi cũng thả tàn tro
Ô kìa lại bán cả hoa
chọn mua tr
ước khi dọn vào nhà mới
sắc đỏ hay vàng
bâng khuâng nhớ về dĩ v
ãng
cố nhớ lại ngày x
ưa
bó hoa đầu ai tặng
loài hoa g
ì mà mãi không tàn
Chọn hoa nào cho h
ương không tan? Cúi xuống nhìn thân thể
mảnh hình hài nh
ư có như không
Tôi đi đâu
về đâu
đi đuổi bắt một căn nhà
cho nơi cư ngụ cuối
Có ai muốn đi cùng tôi không
mau lên trời sắp tối.
(TMT, Tháng Bảy, 2018, ngày đi mua sinh phần)

Chao ôi! Qua biết bao mất mát, đau thương đến độ, giữa muôn trùng châu lệ thánh thót tiếng ngọc rơi, nhà thơ bỗng thấy cuộc đời chẳng khác gì trò chơi trốn tìm, thương yêu lúc mất lúc còn mà đâu đó, mãi mãi. Dù chẳng còn, cũng không là mất. Người ra đi ở bất cứ tuổi nào cũng trở lại thanh xuân trong đôi mắt khép lại bình an, thảnh thơi trong áo quan chờ lửa để hóa thân. Trong cõi vô thủy vô chung, kết thúc cũng là nơi bắt đầu.

Đi mua một ngôi nhà hay ngôi sinh phần chỉ khác nhau ở ý nghĩa ước lệ trong ngôn ngữ loài người nhưng cả hai cùng là những nốt nhạc vui trong bản hòa âm nhiều giai điệu của đời người, gió có thể làm thoảng bay nhưng không bao giờ dứt tiếng.


Bùi Bích Hà sinh năm 1938 tại Gia Hội, thành phố Huế. 
Tốt nghiệp Đại học Sư phạm Huế ban Pháp văn. 
Dạy Pháp văn tại Ðà Nẵng rồi Sài Gòn. Vượt biên 1984. 
Ðịnh cư tại Laguna Hill, quận Cam, Cali USA từ 1986.
Xuất hiện trên báo Người Việt từ 1987. Qua đời năm 2021.
Tác phẩm đã xuất bản:
Buổi Sáng Một Mình (tập truyện, Người Việt 1989) 
Bạn Gái To Nhỏ (hỏi đáp tâm lý, Người Việt 1991)